Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Anna Karenina-tiểu thuyết của nhà văn Nga Lev Nikolayevich Tolstoy



Cảm hứng sáng tác
 
Anna Karenina được xem như là một đỉnh cao của tiểu thuyết lãng mạn. Nhân vật chính trong truyện Anna Karenina được Tolstoy sáng tác dựa vào Maria Aleksandrovna Hartung, người con gái lớn của đại thi hào Aleksandr Sergeyevich Pushkin. Sau khi gặp cô ở một bữa ăn tối, ông bắt đầu đọc truyện viết dở dang của Puskin: Những người khách họp mặt trong biệt thự, Tolstoy nảy ra ý định viết Anna Karenina.
Theo một cuộc thăm dò gần đây, dựa trên ý kiến của 125 nhà văn nổi tiếng đương thời, tiểu thuyết Anna Karenina là tác phẩm có số phiếu bầu cao nhất trong danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất mọi thời đại.

        Bốn năm sau khi viết xong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình, khoảng ngày 19 tháng 03 năm 1873 Tolstoy bắt đầu viết Anna Karenina. Sau khi hoàn thành, cuốn tiểu thuyết này đã đưa nhà văn lên một địa vị mới trên văn đàn văn học Nga và thế giới. Anna Karenina lập tức được xem là một trong trong những quyển tiểu thuyết hay nhất của nền văn học nhân loại.

       Nói về tác phẩm Anna Karenina, vợ nhà văn kể lại như sau: "Tối qua anh ấy nói với tôi rằng anh ấy đã hình dung ra một người đàn bà có chồng thuộc xã hội thượng lưu, nhưng bị sa ngã. Anh ấy nói rằng nhiệm vụ của anh ấy là phải làm sao cho mọi người thấy người đàn bà ấy chỉ đáng thương mà không đáng tội và khi anh vừa hình dung được ra như thế, thì tất cả những nhân vật, những loại đàn ông mà anh hình dung trước kia đều tìm được vị trí của họ và tập trung quanh người đàn bà ấy"

Cốt truyện

     
      Gia đình người anh trai của Anna có sự bất hòa và Anna - vợ của một quan chức cao cấp của triều đình ở Sankt-Peterburg, đã đi tàu đến Moskva để giúp anh trai và chị dâu hòa giải. Nàng đi cùng toa với bá tước phu nhân Vroskaya. Đến Moskva, anh trai của Anna đón ở ga và con trai của bá tước phu nhân là Alexei Vronsky cũng ra đón mẹ. Lúc này, mọi người chưa kịp xuống tàu thì xảy một tai nạn khủng khiếp: một người công nhân bị tàu cán chết. Sự kiện này làm mọi người hết sức kinh hoàng.

      Cùng thời gian này, Levin, một điền chủ hầu như quanh năm chỉ sống ở nông thôn, cũng đến Moskva với mục đích cầu hôn với cô con gái út của gia đình Cherbatsky là Kitty - người mà đã để ý và có tình cảm từ lâu. Kitty mới 18 tuổi vừa bắt đầu gia nhập cuộc sống giao tế của giới thượng lưu và được nhiều người để mắt đến trong đó có Vronsky. Chàng là người tuấn tú, giàu có, quý phái và có tương lai xán lạn ở triều đình và trong quân đội. Nên mặc dù Kitty cảm thấy mình quý mến và tin cậy Levin, song tâm hồn của cô gái trẻ này lại hướng về Vronsky nhiều hơn, nên nàng đã từ chối lời cầu hôn của Levin.

      Anna nhanh chóng giải quyết mối mâu thuẫn cho vợ chồng người anh. Vẻ xinh đẹp và khả ái của Anna đã hấp dẫn mọi người xung quanh kể cả Kitty (em gái của Dolly - chị dâu của Anna). Trong buổi khiêu vũ tổ chức tại nhà người quen ít lâu sau, cả Kitty và Anna đều đến. Kitty hạnh phúc và mong chờ được nhảy cùng Vronsky, nhưng khi nàng thấy vẻ mặt của Vronsky khi nhảy cùng Anna, nàng bất ngờ nhận ra rằng Vronsky đã say mê Anna, điều đó khiến Kitty vô cùng đau khổ.

      Anna đón nhận tình cảm của Vronsky và xao xuyến vì tình cảm đó nên nàng cảm thấy có lỗi. Nàng đã vội vã rời Moskva nhưng trên chuyến tàu trở về Sankt-Peterburg. Vronsky đã đi theo "để có mặt nơi nào nàng có".
 
      Chồng của Anna là Alexei Karenin, lớn hơn nàng nhiều tuổi, là một con người có tâm hồn khô khan, cằn cỗi, tính nết ưa giả dối, khuôn sáo và có lối sống tẻ nhạt. Anna lấy Karenin là do sự sắp đặt của người cô ham tiền và ham địa vị. Vì vậy, sau bao năm chung sống với chồng, nàng không hề có tình yêu với một con người như thế nên nàng đã dồn mọi tình cảm cho đứa con trai. Sự xuất hiện của Vronsky cùng với tình cảm nồng nhiệt của chàng đã đánh thức những khát khao yêu đương trong Anna. Ban đầu nàng cố gắng đấu tranh, song cuối cùng nàng không kháng cự nổi và đã lao vào cuộc tình với Vrosky. Cuộc tình vụng trộm đó không giấu được lâu nhưng thật bất ngờ chồng Anna biết nhưng không ghen tuông mà chỉ lo lắng cho danh dự và tiếng tăm của ông ta, điều đó càng làm cho Anna chán ghét chồng. Nàng có thai với Vronsky và suýt chết trong khi sinh nở. Karenin tỏ ra cao thượng, tha thứ cho nàng, chăm sóc nàng cùng đứa bé gái mới sinh khiến Anna cảm động ăn năn và Vronsky thì thấy nhục nhã định tự tử nhưng không chết. Tuy nhiên, sự cao thượng giả tạo của Karenin chỉ tách Anna ra khỏi Vronsky trong thời gian ngắn mà không dập tắt nổi ngọn lửa tình yêu giữa hai người. Nó tạm lắng xuống rồi lại bùng lên rừng rực, mạnh mẽ. Họ không thể sống thiếu nhau, Anna quyết định bỏ nhà, chia tay với đứa con trai mà nàng yêu quý, để cùng Vronsky và đứa con gái nhỏ ra nước ngoài.

      Levin sau khi bị Kitty từ chối "lời cầu hôn" liền rời Moskva quay trở về với nông thôn. Chàng trở lại với công việc quản lý điền trang và tìm thấy sự an ủi trong công việc, trong sự hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của những người lao động. Chàng biết được việc của Kitty (sau khi bị Vronsky từ chối nàng đã rất đau khổ và bệnh nặng) phải ra nước ngoài dưỡng bệnh. Một lần tình cờ sau buổi làm việc ngoài đồng, trên đường về Levin nhìn thấy cỗ xe ngựa chở Kitty chạy qua (nàng đang trên đường từ nước ngoài trở về). Chàng chợt nhận ra rằng tình cảm của mình dành cho nàng vẫn còn nguyên vẹn, bèn quyết định đi Moskva để cầu hôn lần nữa. Lần này, chàng đã thành công. Họ nhanh chóng chuẩn bị đám cưới và sau đám cưới, Levin đưa ngay vợ về nông thôn. Kitty lập tức thích ứng với vai trò người vợ của mình khiến cho Levin nhiều bất ngờ và ngạc nhiên. Giữa hai vợ chồng cũng xảy những cuộc cãi cọ, hiểu lầm nho nhỏ, song cuộc sống của gia đình họ rất hạnh phúc.

      Trong khi đó hạnh phúc của Anna và Vronsky thật không dễ dàng, nó phải đổi bằng những hy sinh: Vronsky phải từ bỏ con đường danh vọng, Anna phải rời xa đứa con trai (mà nàng rất yêu quý và luôn nhớ thương con - nỗi nhớ ấy luôn ám ảnh và dằn vặt nàng) và chịu những lời chê trách gièm pha. Họ cũng không thể sống mãi ở nước ngoài nên một thời gian sau họ trở về Nga. Vronsky dù yêu Anna, song cũng đã mệt mỏi vì cuộc sống không chính thức của hai người, trong khi đó Anna vẫn không giải quyết được việc ly hôn với chồng vì vướng bận chuyện con trai. Karenin không cho nàng nhận con nếu ly hôn, bởi vậy nàng không thể hợp thức hóa cuộc sống lứa đôi với Vronsky. Những khó khăn đó cộng với sức ép của dư luận, của những người quen thuộc xung quanh làm cho quan hệ tình cảm giữa hai người càng lúc càng trở nên căng thẳng: Vronsky bực bội, mệt mỏi, còn Anna thì đau khổ ghen tuông, nghi ngờ về tình yêu của chàng dành cho mình. Một lần sau trận cãi cọ, Vronsky bỏ về nhà mẹ. Anna đau khổ với những ý nghĩ bi quan, tuyệt vọng. Nàng định đi tìm chàng, nhưng lúc đến nhà ga, Anna chợt nhớ đến cái chết của người công nhân xe lửa và nàng đã quyết định giải thoát cho mình bằng cách lao đầu vào xe lửa.

      Sau khi Anna chết, Vronsky vô cùng đau khổ. Chàng xin gia nhập vào quân đội tình nguyện giúp người Serbia trong cuộc chiến tranh chống Thổ Nhĩ Kỳ. Còn Levin và Kitty vẫn tiếp tục cuộc sống gia đình hạnh ở nông thôn và sinh được một cậu con trai.

“Anna Karenina”: Vẻ đẹp vĩnh hằng của sự sa ngã
Với tác phẩm Anna Karenina, Lev Tolstoy đã khiến cho cả thế giới phải xót thương và đau đớn với nhân vật người phụ nữ thượng lưu sa ngã của mình.

      Xuyên suốt tác phẩm, người đọc chỉ thấy hiển hiện lên vẻ đẹp đến tinh khiết, và nồng nhiệt của người phụ nữ quý tộc Anna, khiến cho biết bao nhiêu chàng trai phải mê đắm, để rồi từ đó chúng ta được chứng kiến một cách tuyệt vời nhất sự thức dậy của tình yêu cũng như  niềm ước mơ, niềm khao khát tưởng như đã chôn chặt khi nàng phải kết hôn với một người mà mình không hề yêu. 
      Anna đã giằn vặt, đã chạy trốn vì những ràng buộc, những eo sèo của dư luận xã hội, nhưng nàng không thể nào trốn chạy nổi trái tim đang yêu cuồng nhiệt của mình. Tình yêu của nàng tươi mới như vừa mới bắt đầu được thai nghén và trỗi dậy trong buổi bình minh sớm. Và Alexei Vronsky chính là mục đích cuối cùng mà nàng cần trong cuộc đời này.
     
       Cuộc gặp gỡ tại ga xe lửa lần đầu tiên ấy chính là điểm định mệnh gắn kết cuộc đời Anna với Vronsky, để họ thuộc về nhau, và từ bỏ tất cả mọi địa vị, gặt phăng mọi dư luận để được sống bên nhau.
       
        Nhưng, với Anna, dường như số phận đã định đoạt rằng, nàng không bao giờ có được sự hạnh phúc trọn vẹn như nàng khao khát. Dù hạnh phúc ấy đã khiến nàng phải hi sinh quá nhiều, nàng đã tự nguyện bỏ lại đứa con trai vô cùng thương mến của mình để chạy trốn với người yêu, nhưng rồi những ám ảnh, những khó khăn, những dằn vặt đời thường đã khiến cả hai con người ấy cùng rơi vào trạng thái tan vỡ.
      
       Tình yêu tưởng như tồn tại vĩnh viễn sau biết bao nhiêu khổ sở để đến được bên nhau. Nhưng rồi tình yêu lại cũng nhanh chóng bị giết chết bởi những mệt mỏi, ghen tuông, tầm thường. Anna bỗng chốc nhận ra sự khổ đau và nỗi bất hạnh của đời mình.
      Dù nàng vẫn yêu, nhưng nàng bế tắc. Nàng không thể tìm được cho mình và người yêu một lối thoát nào khác. Và nàng đã đi đến một khoảnh khắc cuối cùng, chấm dứt cuộc sống của mình bằng cách lao đầu vào ga xe lửa.
      Đó là sự nghiệt ngã của số phận hay theo logic phát triển của xã hội buộc Anna phải làm thế, bởi trong thời đại lúc bấy giờ những tình yêu đích thực, những khao khát mãnh liệt và nồng cháy của con người lại không được xã hội chấp nhận.
      Cái chết của Anna đã khiến cho những người trẻ tuổi giật mình, khóc òa, và đau buốt, còn  những người đã đứng tuổi, đã trải qua nhiều nỗi đau, đã đi qua những nông nổi của tuổi trẻ thì ngậm ngùi nhìn về phía xa xăm, rồi chợt giật mình đánh rơi cuốn sách.
      Nỗi đau ngấm dần vào trái tim. Xót xa cho một trái tim yêu mãnh liệt, nhưng tuyệt vọng. Anna cho đến khi chết vẫn thấy hình ảnh của nàng đẹp như tỏa ra một thứ ánh sáng lung linh từ tâm hồn.
       Lev Tolstoy đã là người hiểu hơn ai hết niềm hạnh phúc cũng như sự dằn vặt, đau đớn và bất hạnh bên trong tâm hồn người con gái ấy. Bởi vậy, ông dùng cái chết để giải thoát cho nhân vật của mình, nhưng lại chính là cách để trói buộc những người còn sống, cũng như những độc giả của thể hệ hôm nay phải day dứt mãi về nhân vật Anna Karenina của ông.
          

Nguồn:  afamily.vn 21-012011



Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011

Truyện Bác sĩ Zhivago va nhac phim Lara' Theme-BORIS PASTERNAK (1890-1960)

Moi cac ban hat theo loi Viet cua Xuan Vinh hoac loi Anh

Lời Việt:

A1 .


Nhìn dòng sông sâu
Lờ lững uốn quanh.. nhịp cầu
Lòng nghe bâng khuâng
Mơ những ngày xưa ái ân...
A2 .

Thuyền tình rong chơi
Lạc lối trôi theo dòng đời
Hồn nghe chơi vơi
Nhớ đến người yêu.. xa xôi...

B .
Ngày... xưa...
Lúc ta gặp nhau trong vườn.. mộng...
Ngập... ngừng...
Hồn anh tỏ đôi câu... thương... nhớ...

C1 .
Rừng cây xôn xao
Lạnh lẽo gió heo may về
Hồ gương gợn sóng
Nhớ ai lệ dâng.. mắt trong...

C2 .
Người yêu tôi đâu
Để đến chia xẻ.. nỗi sầu
Người tôi yêu dấu
Nỡ để hồn tôi.. quạnh hiu...

Người tôi yêu dấu
Nỡ để hồn tôi.. quạnh hiu...



Lời Anh:
A1 .

Some where my love
There will be songs.. to sing
Al-though the snow
Co-ver the hop of spring...

A2 .

Some where a hill
Blos-soms in green.. and gold
And there are dreams
All that your heart.. can hold...

B .

Some... day...
We'll meet a-gain my.. love...
Some... day...
Wheren e-ver the spring... through.../dd>

C1 .
You'll.. come.. to me...
out of a - long.. a - go
Warm as the wind
Soft as the kiss.. of snow...



C2 .
Till then my sweet
Think of my now.. and then
God speed my love
Till you are mine.. a-gain...

God speed my love
Till you are mine.. a-gain...





Hoàn cảnh sáng tác
Bối cảnh truyện Bác sĩ Zhivago nằm vào khoảng 1910 - 1920, nhưng Pasternak hoàn tất vào khoảng 1956. Vì ông có vấn đề với chính phủ Xô viết lúc bấy giờ nên truyện này không được xuất bản. Năm 1957 bản thảo của truyện được tuồn ra ngoài Liên Xô và in ra sách tiếng Nga tại Ý (nhà xuất bàn Feltrinelli). Năm sau có ấn bản tiếng Ý và tiếng Anh. Pasternak nhờ đó mà được đề nghị nhận giải Nobel văn chương năm 1958, nhưng chính quyền Xô viết bấy giờ ép ông phải từ chối nhận giải thưởng này. Mãi đến 1988, sách truyện Bác sĩ Zhivago mới được cho in và xuất bản tại Nga.

Tóm tắt nội dung

Khởi đầu truyện là phần giới thiệu Yuri Andreievich Zhivago lúc 10 tuổi đi đám tang của mẹ. Sau đó Yuri học y khoa, bắt đầu làm thơ, rồi cưới vợ tên là Tonya. Truyện sau đó giới thiệu Larisa Fyodorovna (Lara) ở tuổi dậy thì, sống với bà mẹ góa phụ khi bà này làm công cho chủ hãng may tên Komarovsky. Komarovsky dụ dỗ và hiếp dâm Lara. Trong cơn tủi nhục cuồng nộ, nàng lấy súng bắn Komarovsky tại một buổi tiệc giáng sinh nhưng không may lại bắn trúng một người khác. Nàng sau đó kết hôn người tình đầu của mình là Pavel Pavlovich (Pasha).
Kế đến truyện dẫn vào thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Yuri tòng quân với tư cách bác sĩ quân y. Pasha rời vợ và con gái (Tanya) theo quân đội và bị mất tích. Lara tình nguyện làm y tá với hy vọng tìm kiếm tông tích chồng. Khi Yuri vào thăm vợ khi nàng sanh đứa con trai đầu lòng thì gặp cô y tá Lara. Hai người có ý thầm yêu nhau nhưng không dám tỏ lời. Vào lúc này phong trào cách mạng bắt đầu nổi dậy tại Petersburg.
Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, Yuri và Lara được bổ nhiệm công tác chung tại một nhà thương ở tỉnh nhỏ xa xôi. Yuri bị thôi thúc bởi những cảm tình cho Lara. Chàng tâm sự với Tonya và Tonya nghi ngờ rằng Yuri cùng Lara đã ngoại tình. Mùa đông đến, đời sống trở nên chật vật vì thiếu thức ăn và dịch lỵ lan tràn. Sau cuộc chiến, Yuri trở về chức vị bác sĩ cũ tại nhà thương ở Moskva. Vì cá tính lãng mạn chàng thường bị các đồng nghiệp bolshevik bài bác là thiếu logic và tinh thần cách mạng. Giữa các cuộc xung đột chống chủ nghĩa Marx nổ ra, Yuri cùng gia đình dời về Urals. Trên xe lửa của chuyến đi này, Yuri nhận thức được nỗi khổ của nông dân và tù binh, những nạn nhân của cuộc chiến cách mạng. Chàng yêu chuộng tự do và bình quyền, nhưng bất mãn với những hành động hay ý kiến quá cứng rắn và thiếu tình người của những người theo cách mạng.
Tại Urals, Yuri cùng gia đình khai đất làm ruộng. Chàng trở lại sở nguyện làm thơ. Tại thư viện làng, chàng gặp lại Lara. Hai người ngoại tình và cùng sống cuộc đời vụng trộm yêu đương tột đỉnh. Lara lúc bấy giờ biết Pasha còn sống và hiện là một tay trùm Đỏ khét tiếng với tên mới Strelnikov. Yuri muốn trở vế với vợ để thú tội ngoại tình nhưng không may bị một nhóm quân cách mạng bắt cóc và phải phục vụ như bác sĩ của nhóm này. Sau vài năm, Yuri trốn thoát và trở lại với Lara. Để tránh không bị điềm chỉ, cặp tình nhân bỏ trốn sang một nông trại khi xưa gia đình Yuri từng canh tác. Yuri tiếp tục làm thơ - bày tỏ tâm sự của chàng về những thăng trầm của đời sống, những lo sợ và lòng can đảm trong chiến tranh và hơn hết là tình yêu dành cho Lara. Trong khi đó có tin vợ Yuri là Tonya và con gái chàng bị trục xuất khỏi Nga. Chẳng bao lâu sau đó, Komarovsky, kẻ đã từng hãm hiếp Lara khi xưa, xuất hiện. Hắn hăm dọa rằng quân cách mạng đang truy lùng Yuri và Lara và sẽ giết cả hai nếu bắt dược. Hắn hứa giúp đưa Yuri và Lara trốn ra nước ngoài. Yuri đắn đo một hồi lâu và kết cuộc vì vấn đề an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình. Yuri ở lại Nga và bắt đầu say sưa uống rượu giải sầu.
Strelnikov, chồng của Lara lúc bấy giờ đang chạy trốn vì bị chính phủ cách mạng truy lùng. Y tìm ra Yuri và sau khi biết chuyện Lara ngoại tình, bèn tự sát.
Yuri trở lại Moskva và sinh sống cùng một phụ nữ tên Marina và kiếm sống bằng cách viết sách. Em của chàng tìm cho chàng một chức vụ bác sĩ nhưng trên đường đi làm, chàng bị đứng tim mà chết. Lara, từ Irkutsk lên Moskva và tình cờ đi tới nhà liệm thấy xác Yuri còn nằm đó. Sau đó vài ngày, nàng mất tích, có người cho rằng nàng bị bắt đi trại tập trung cải tạo.




Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Johannes Brahms va bai Hungarian voi minh hoa cua Charlie Chaplin

 
Johannes Brahms (7 tháng 5 năm 1833 tại Hamburg – 3 tháng 4 năm 1897 tại Wien) là một nhà soạn nhạc, chơi đàn piano và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn (romanticism).
Là một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông thực hiện các buổi diễn ra mắt nhiều tác phẩm của chính mình, ông cũng đã từng làm việc với một số nghệ sĩ hàng đầu vào thời bấy giờ, kể cả với nghệ sĩ dương cầm Clara Schumann và nghệ sĩ vĩ cầm Joseph Joachim. Brahms là một người kiên quyết theo chủ nghĩa cầu toàn, cho nên ông đã tự hủy và không công bố rất nhiều tác phẩm của mình.
Các sáng tác của Brahms bao hàm cả những chất liệu truyền thống lẫn sáng tạo. Âm nhạc của ông có cấu trúc và kỹ thuật bắt nguồn từ các bậc thầy Baroque và nhạc cổ điển. Âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung dị sâu sắc của tâm hồn. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại


 

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Frédéric Chopin va ban Tristesse noi tieng

Tristesse - Giai điệu của nỗi buồn tha hương
Chopin từng đã nói về Tristesse : “Cả cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ có thể tìm thấy lần nữa một giai điệu đẹp đến thế.” Cũng như suốt quãng đời tha hương, Chopin không bao giờ được trở lại tổ quốc Ba Lan hay lãng quên được người con gái tóc vàng đã cự tuyệt tình yêu đầu đời của ông nơi quê nhà.

Về sức hấp dẫn của âm nhạc Chopin, nghệ sĩ piano nổi tiếng người Ba Lan Arthur Rubinstein đã nói:
“Chopin là một thiên tài hấp dẫn toàn cầu. Âm nhạc của ông chinh phục hầu hết mọi loại khán thính giả. Khi những nốt đầu tiên của Chopin vang lên trong phòng hòa nhạc, mọi người liền tỏ dấu hiệu vui sướng vì nhận ra.
Đàn ông và phụ nữ khắp thế giới biết về âm nhạc của ông. Họ yêu thích nó. Họ xúc động vì nó. Ấy thế mà nó không phải là “âm nhạc Lãng mạn” theo nghĩa của Byron. Nó không kể những câu chuyện hay vẽ những bức tranh. Nó diễn cảm và riêng tư nhưng vẫn là nghệ thuật thuần túy.
Ngay cả trong thời đại nguyên tử trừu tượng này, nơi mà xúc cảm không phải là thời thượng, Chopin vẫn tồn tại. Âm nhạc của ông là ngôn ngữ giao tiếp toàn cầu của nhân loại. Khi tôi chơi nhạc Chopin, tôi biết là tôi nói một cách trực tiếp với trái tim của con người!”

Bản Étude No. 3 giọng Mi trưởng trong tập tác phẩm này, còn được gọi bằng những cái tên Pháp như Tristesse (Nỗi buồn) hay L"intimité(Thân tình), có lẽ là étude được nhiều người biết đến nhất của Chopin. Đây là tác phẩm đầu tiên trong số những étude tương đồng với các nocturne của chính ông hơn là một bài tập kỹ thuật truyền thống.
Étude No. 3 giọng Mi trưởng được gọi là một khúc thơ nhỏ bằng âm nhạc và cách phân nhịp có thể hát lên được tuyệt diệu của nó (cantabile) bộc lộ tình yêu lớn lao mà Chopin dành cho thể loại opera.
Nguon:TuanVietnam.net



Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp , mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warsawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.
Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.
Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.




Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

HUYỀN THOẠI TÀU TITANIC-PHIM TITANIC VA NHẠC PHIM BAT HU

        Titanic là bộ phim kể về vụ đắm tàu Titanic - một trong những sự kiện kinh hoàng nhất thế kỉ 20 - đã được đạo diễn James Cameron dàn dựng thành một trong những bộ phim nổi tiếng nhất mọi thời đại.
        Bộ phim hoành tráng của Hollywood với kinh phí sản xuất trên 200 triệu USD, là một hiện tượng của điện ảnh thời gian đó. Đây còn là phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới và đoạt được 11 giải Oscar

"Cốt truyện không thể viết hay hơn được nữa...Sự sánh đôi của kẻ giàu người nghèo, trách nhiệm của giới tính được đề cao và thực thi cho đến chết (phụ nữ trước nhất), chủ nghĩa Khắc kỷ và tính cách quý phái của một thời đã qua, sự hoành tráng của con tàu vĩ đại được so sánh cùng với sự ngu dại của con người khăng khăng lái con tàu băng qua đêm tối. Trên hơn cả là bài học: cuộc sống là một sự bất tiền định, tương lai là một điều không thể biết trước hoặc suy tính trước được."
— James Cameron[8]


Tóm tắt cốt truyện

        Bộ phim mở đầu với việc một nhóm thăm dò dưới đáy biển trong thập niên 1990 đã phát hiện ra bức tranh của một người con gái tên Rose DeWitt Bukater (Kate Winslet) trong con tàu Titanic bị đắm đó. Vô tình, việc họ tìm thấy bức tranh và đang chiếu trên TV được bà lão Rose đó xem và nhận ra, bà lão ấy chính là cô gái trong bức tranh. Từ đây họ được nghe kể về câu chuyện của một người phụ nữ sống sót trong chuyến tàu Titanic định mệnh, người đã sống thọ tới hơn trăm tuổi.

        Rose sinh ra ở một gia đình quyền quý ở Philadelphia, mới 17 tuổi cô đã được đính hôn với Caledon Hockley (Billy Zane). Thông mình, đĩnh đạc và xinh đẹp dù mang trong mình sự nổi loạn ngầm, Rose được dạy dỗ từ thuở ấu thơ tất cả những điều của phụ nữ quý tộc. Lời hứa hôn của Rose với Hockley - người thừa kế nhà máy luyện thép thịnh vượng tại Pittsburgh và là kẻ có tính kiêu ngạo vũ phu - là một vận may tuyệt vời với một gia đình đang xuống dốc. Họ được xem là một cặp đôi hoàn hảo của sự giàu có và địa vị xã hội nhưng đó là sự ép buộc đối với Rose. Quá phẫn uất, Rose định tự tử nhưng được cứu bởi Jack Dawson (Leonardo DiCaprio), một chàng họa sĩ nghèo phóng khoáng, đẹp trai, hài hước, đang trên đường tìm cơ hội lập nghiệp ở Mỹ. Tình yêu đến với họ thật tự nhiên và dịu dàng.

        Cuộc sống tự do phóng khoáng với nụ cười luôn nở trên môi, Jack Dawson đã hẫp dẫn Rose. Cô gái quý tộc này đã từ bỏ tất cả để hòa nhập vào cuộc sống không có sự trưởng giả, dối trá mà chỉ toàn những con người thân thiện luôn sẵn sàng mỉm cười với cô. Những điệu nhảy nhịp nhàng, những trò chơi đơn giản mà thú vị, những câu chuyện đời thường, tất cả những gì Rose chưa từng biết tới khi sống trong tầng lớp quý tốc thì giờ đây cô đã được chứng kiên tận mắt. Với cô đây mới thực sự là cuộc sống và cuộc sống ấy càng hạnh phúc hơn khi có tình yêu của Jack.

       Nhưng chuyến tàu định mệnh đã thay đổi toàn bộ số phận hành khách trên con tàu cũng như những dự tính, ước vọng của đôi tình nhân Jack & Rose. Một thảm họa đã xảy ra khiến mọi chuyện lệch khỏi quỹ đạo không còn đi theo kế hoạch: Tinatic va phải một tảng băng trôi. Người ta nháo nhào tranh nhau xuống thuyền cứu hộ, thậm chí dám cướp nhau một cái áo phao. Tồi tệ hơn, giới quý tộc đã khóa cửa không cho những người thuộc tầng lớp bình dân vào khoang tàu dưới chỉ vì sợ họ tranh mất cơ hội sống của họ. Lúc này Jack đang bị kẹt bên một đường ống dẫn nước vì vướng vào một vụ vu oan giá họa, người ta nghi ngờ anh ăn cắp chuỗi ngọc trang sức quý giá của Hockley tặng Rose. Nước đang tràn vào tàu, lạnh buốt xương. May sao vì tình yêu Rose đã không xuống thuyền cùng mẹ mà chạy đi tìm Jack, kịp thời cứu anh thoát chết trước khi nước ngập vào. Hai người chạy trốn, thoát hiểm cùng nhau cho đến khi con tàu bị dựng đứng lên rồi gẫy ra làm đôi. Chỉ có một số nhỏ thoát chết còn hàng ngàn hành khách, đa phần là người thuộc tầng lớp bình dân, đã thiệt mạng. Họ chết vì cái lạnh của nước biển, họ chết vì cái lạnh lùng tàn nhẫn của một số người ham sống sợ chết.

        Trong giờ phút lênh đênh giữa đại dương, Jack đã nhường người yêu một tấm phản khá to. Rose may mắn được nằm trên một tấm phản gỗ trôi dập dềnh trên mặt biển, còn Jack thì đã vĩnh viễn rời xa cô trong làn nước giá lạnh. Xung quanh cô toàn xác người chết cóng, bản thân cô cũng đã quá mệt mỏi nhưng vì lời hứa Jack, cô đã quyết tâm sống. Cô lăn mình xuống nước băng giá, vùng vẫy tới gần xác một thủy thủ để lấy cái còi. Cô thổi những hơi lạnh buốt vào chiếc còi lấy được với hy vọng sẽ gây được sự chú ý. Và rồi người chỉ huy của chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng quay nhìn thấy cô và Rose sống sót.

          Ký ức buồn vui về Jack đã đi theo Rose suốt cả cuộc đời, để bây giờ bà Rose đang sắp bước sang tuổi 101 ngồi kể chuyện cho những người thăm dò tàu Titanic về một người mà bà thực sự yêu, một người đã đem đến cho bà cuộc sống chân thực.

          Ngay đêm kể xong câu chuyện, Rose đã qua đời, một mình và thanh thản. Linh hồn bà đến với Jack tại con tàu Titanic dưới đáy biển, nơi họ đều trở về thời thanh xuân ban đầu. Một kết thúc có hậu cho họ.
         Và xin mời các bạn nghe ca khúc : My Heart Will Goes On - ca khúc chính thức trong phim do Celine Dion trình bày.


HUYỀN THOẠI VỀ TÀU TITANIC
Tàu RMS Titanic (hay còn gọi là SS Titanic) được khởi công xây dựng vào năm 1909 và hoàn thành vào năm 1912, là sản phẩm của hãng tàu thuyền The White Star Line. Nó đã trở nên nổi tiếng vì nó là tàu chở khách vượt Đại Tây Dương lớn nhất được xây dựng vào thời bấy giờ. Nó còn được gọi là RMS (Royal Mail Ship hay Steamer) Titanic, vì nó cũng có trách nhiệm đưa thư từ Anh Quốc sang bên kia đại dương. Tên gọi của nó, « Titanic » cũng có ý nghĩa : có nguồn gốc từ tên người khổng lồ Titan trong thần thoại Hy Lạp, « titanic » trong tiếng Anh có nghĩa là « to lớn, khổng lồ, vĩ đại ». Nhưng sự kiện khiến nó đi vào lịch sử chính là vào chuyến hải hành đầu tiên và đáng tiếc cũng là cuối cùng của nó, con tàu đã đâm vào một tảng băng trôi ở giữa Đại Tây Dương và bị đắm v ào th áng 4 năm 1912, đem theo cùng nó xác của 1500 hành khách, thuỷ thủ và vô số của cải, hàng hoá. Đó là một trong những tai nạn hàng hải lớn nhất thế giới (vào thời bình).
        Titanic có một đoàn thuỷ thủ gồm 899 người, và có thể chứa 3300 hành khách trên tổng số 10 boong tàu. Titanic ngoài ra cũng rất nổi tiếng về sự sang trọng và tiện nghi : ngoài phòng ngủ cho hành khách, còn có bể bơi, thang máy cho hành khách thuộc tầng lớp quý tộc và trung bình, phòng tập thể dục, phòng tắm, v.v… Những hành khách còn lại thì dùng cầu thang bộ, tuy vậy nó rất to lớn, và ta có thể thấy, trong bộ phim Titanic nổi tiếng đã đạt 11 giải Oscar vào năm 1998, thì đạo diễn James Cameron đã cho làm lại chiếc cầu thang này y hệt như cái gốc.
Trước chuyến hải hành duy nhất của nó, người ta đã cho rằng Titanic là con tàu không thể bị đánh chìm – Unsinkable : người ta đã khẳng định mạnh mẽ rằng « Ngay đến Chúa cũng không thể làm chìm con tàu này ». Sở dĩ các nhà sản xuất có thể tự tin như vậy về sự an toàn của Titanic, là vì nó được trang bị rất nhiều máy móc hiện đại và tinh xảo nhất thời bấy giờ, cộng thêm hai lớp vỏ bằng thép tôi luyện kỹ càng và được ghép bằng đinh tán, 16 khoang tàu được ngăn bởi 15 vách, và 8 máy bơm có thể làm bay hơi 400 tấn nuớc trong một giờ. Nhưng có lẽ những máy móc và trang thiết bị này cũng không thể chống lại được thảm kịch đã xảy ra với con tàu này

         Ngày 17/4/1912 ( 3 ngày sau con tàu tử nạn ) , tại San Francisco người ta dựng lại mô hình tàu Titanic với kích cỡ đúng với con tàu thật . Mô hình tàu được thiết kế chiếm trọn con đường San Francisco’s Market và cắt ngang đường Powell , làm nền cho mô hình là tòa building James Flood .Tòa nhà này cao 180 feet ( tương đương 57 m) và mô hình tàu Titanic cũng như vậy.


Mô hình tàu Titanic & building James Flood


.


NHAC PHIM HAY: THE GOOD FATHER


Bố già (tiếng Anh: The Godfather) là một bộ phim hình sự sản xuất năm 1972 dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mario Puzo và do Francis Ford Coppola đạo diễn. Phim xoay quanh diễn biến của gia đình mafia gốc Ý Corleone trong khoảng 10 năm từ 1945 đến 1955. Bộ phim có dàn diễn viên nổi tiếng gồm Marlon Brando, Al Pacino, Robert Duvall, Diane Keaton và James Caan. Đây được xem là một trong những bộ phim có dàn diễn viên hùng hậu nhất trong lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ, với bốn diễn viên chính là Marlon Brando, Al Pacino, Robert Duvall và Diane Keaton đều từng dành giải Oscar cho diễn viên chính sách xuất sắc nhất.
Bộ phim được coi là một trong những phim hay nhất của lịch sử điện ảnh, nó luôn xếp ở các vị trí dẫn đầu trong các bảng xếp hạng phim hay uy tín. Bố già được bình chọn là bộ phim xếp thứ 2 trong Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ[1] và cũng đứng thứ 2 trong danh sách 250 phim hay nhất của trang web dữ liệu điện ảnh uy tín IMDb[2]. Đây cũng là bộ phim đầu bảng trên các danh sách phim hay nhất của Metacritic và Rotten Tomatoes[3][4].
Bố già được nối tiếp bởi 2 phần là Bố già phần II (The Godfather Part II) sản xuất năm 1974 và Bố già phần III (The Godfather phần III) sản xuất năm 1990.
NOI DUNG PHIM
Phim bắt đầu bằng cảnh đám cưới của Connie Corleone, con gái duy nhất của ông trùm Vito Corleone với Carlo Rizzi vào cuối mùa hè năm 1945 ở Long Island, New York. Vì phong tục "không người Sicilia nào được từ chối những đề nghị vào ngày cưới của con gái họ", Vito Corleone, thường được bạn bè và người cộng tác gọi là "Bố già", cùng với người cố vấn Tom Hagen phải ngồi nghe những thỉnh cầu từ bạn bè và đối tác làm ăn. Cùng lúc đó, con trai út của nhà Corleone, Michael, người vừa trở về sau chiến tranh với tư cách một anh hùng, kể cho bạn gái của anh là Kay Adams những giai thoại về cuộc đời tội ác của cha mình và cam đoan với cô rằng anh không giống với gia đình mình.
Trong số khách mời đám cưới có ca sĩ nổi tiếng Johnny Fontane, con đỡ đầu của Vito Corleone, tới để đề nghị Bố già giúp đỡ anh ta có được vai diễn trong một bộ phim Hollywood của Jack Woltz, người trước đó đã từ chối thẳng thừng Fontane. Don Corleone đã nói với Johnny:
"Ta sẽ đưa ra một đề nghị mà hắn không thể chối từ - I'm gonna make him an offer he can't refuse".
Hagen được cử tới California để thương lượng nhưng Woltz vẫn giận dữ nói rằng không bao giờ giao vai cho Fontane. Sáng hôm sau khi Woltz thức dậy, lão nhận ra rằng mình đang nằm cạnh cái đầu đầy máu của con ngựa quý mà lão giới thiệu với Hagen trước đó.
Sau đó nhà Corleone gặp tay buôn bán heroin Virgil Sollozzo biệt danh "gã người Thổ" (The Turk), người được hậu thuẫn bởi gia đình Tattaglia thù địch. Gã đề nghị Don Corleone bảo vệ về mặt chính trị và đầu tư để gã nhập và phân phối một lượng ma túy lớn tuy nhiên Corleone đã từ chối. Sau đó Hagen bị Sollozzo và tay sai bắt cóc, còn bản thân Bố già cũng bị ám sát không thành nhưng trọng thương. Sollozzo thuyết phục Hagen đề nghị Sonny chấp nhận vụ làm ăn mà cha anh ta đã từ chối, Sonny cũng vẫn bỏ qua nó, cũng có nghĩa đã khơi ngòi cho cuộc chiến với Sollozzo và gia đình Tattaglia. Bây giờ, nhà Corleone phải chuẩn bị để chống lại cuộc chiến toàn diện với 4 gia đình lớn còn lại.
Michael, người được các gia đình mafia khác coi là "dân thường" trong cuộc xung đột này, đến thăm bố mình tại bệnh viện, anh nhận ra không có vệ sĩ nào của ông canh gác. Biết rằng Bố già sắp bị giết, Michael vội chuyển ông vào một phòng khác, gọi Sonny dến cứu trợ và đi ra canh chừng cửa chính. Sau khi lừa được vài tay chân của Sollozzo, anh gặp cảnh sát đến bệnh viện trong đó có tay đại úy bị mua chuộc McCluskey, gã này làm vỡ quai hàm của Michael chỉ với một cú đấm. Ngay sau đó Hagen xuát hiện với những "thám tử tư" được phép mang súng để bảo vệ Don Corleone.
Nhận thấy tính mạng của Vito Corleone đang bị đe dọa, Michael tình nguyện đi giết Sollozzo và McCluskey. Anh hẹn gặp được Sollozo và McCluskey trong một nhà hàng sắp đặt trước với lý do là thương lượng hòa bình. Michael lấy cớ đi vào nhà vệ sinh, ở đây anh lấy khẩu súng đã được giấu sẵn và ám sát Sollozzo, McCluskey. Để tránh bị bắt vì tội giết người, Michael được nhà Corleone gửi về đảo Sicilia, nơi anh sống dưới sự bảo vệ của mafia địa phương. Cũng ở đây, anh yêu và cưới một cô gái địa phương tên là Apollonia, người sau đó chết trong một vụ ám sát không thành nhằm vào Michael.

Michael Corleone (Al Pacino) và Tom Hagen (Robert Duvall)
Cùng lúc đó ở New York, Don Corleone trở về nhà và nổi điên khi biết Michael là người đã giết Sollozzo và McCluskey. Vài tháng sau, vào năm 1948, Sonny hành hung Carlo vì gã này đã thô bạo với với vợ, Connie, em gái của Sonny. Carlo vẫn tiếp tục hành hung Connie, lần này Sonny tự lái xe một mình đi tìm để giết gã, nhưng trên đường anh bị phục kích và bị một nhóm dùng súng máy giết chết. Thay vì trả thù cho Sonny, Don Corleone gặp người đứng đầu của nhóm 5 gia đình lớn nhằm thương lượng kết thúc chiến tranh giữa các gia đình mafia. Trong cuộc họp này, Bố già nhận ra rằng chính Don Barzini, chứ không phải Tattaglia, là người phải chịu trách nhiệm cho cuộc xung đột.
Được bảo đảm an toàn, Michael trở về nhà hơn một năm sau đó, anh gặp lại Kay người yêu cũ của mình và hỏi cưới cô. Vì Don Corleone đã gần như từ bỏ vị trí ông trùm, Sonny bị giết còn người anh Fredo tỏ vẻ không có khả năng trong việc lãnh đạo băng nhóm, Michael phải đứng ra nhận trách nhiệm đứng đầu gia đình Corleone và anh tuyên bố rằng công việc làm ăn của gia đình sẽ sớm được hợp pháp hóa hoàn toàn. Hai caporegime (lãnh đạo cao cấp) của gia đình Corleone là Peter Clemenza và Salvatore Tessio phàn nàn rằng họ bị gia đình Barzini chèn ép và đề nghị đánh trả nhưng Michael từ chối và nhận ra rằng hai người này có thể sẽ phản lại nhà Corleone. Anh quyết định rời công việc làm ăn của gia đình về bang Nevada.

Kay Adams (Diane Keaton)
Trong một cuộc họp kín, Vito cho rằng kẻ thù sẽ tìm cách giết Michael thông qua một người cộng tác tin cậy, không lâu sau ông ta chết vì lên cơn đau tim khi đang chơi với đứa cháu trong vườn cà chua. Trong đám ma, Tessio truyền đạt đề nghị một cuộc gặp mặt của Barzini với Michael, chứng tỏ rằng suy đoán của Vito trước đó là chính xác. Michael sắp đặt cuộc thanh trừng Moe Greene, Philip Tattaglia, Emilio Barzini, Salvatore Tessio, Anthony Stracci và Ottilio Cuneo, tất cả sẽ được tiến hành vào lễ đặt tên thánh cho con trai thứ hai của Connie và Carlo mà Michael là cha đỡ đầu. Ngay sau lễ đặt tên, Michael tra hỏi Carlo về cái chết của Sonny và lừa cho gã phải công nhận vai trò của mình trong việc sắp đặt vụ phục kích. Michael nói với gã: "Hôm nay, ta sẽ giải quyết ổn thỏa mọi việc của gia đình" (Today, I settle all Family business), anh cho Carlo biết hình phạt của hắn là bị tống cổ khỏi công việc làm ăn và phải bay đến Nevada ngay lập tức. Carlo lên ô tô tới sân bay, và bị Clemenza xiết cổ đến chết.
Sau đó, Connie đối mặt với Michael và buộc tội anh trai đã giết chồng mình. Kay chất vấn Michael về lời buộc tội của Connie, nhưng anh từ chối trả lời. Kay cố nài nỉ và cuối cùng Michael phải nói dối rằng anh không hề liên quan tới cái chết của Carlo, Kay tin vào lời nói của chồng. Ở cảnh kết phim, Kay thấy Clemenza và caporegime mới của gia đình Corleone, Rocco Lampone, đang bày tỏ sự kính trọng với Michael, hôn tay anh và gọi anh là "Don Corleone". Cánh cửa đóng lại, Kay nhận ra rằng Michael đã trở thành Bố già mới.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

NHỮNG BẢN NHẠC PHIM HAY


ROMEO AND JULIET

Romeo và Juliet là một trong những vở kịch bất hủ trên sân khấu kịch nghệ quốc tế do William Shakespeare viết. Tình tiết chính của câu chuyện là tình yêu giữa hai người trẻ tuổi mà số mệnh không cho họ sống bên nhau, vì hai người là con của hai dòng họ vốn đã căm ghét nhau nhiều thế hệ. Có thể nói Romeo và Juliet là một trong những vở kịch xuất sắc và nổi tiếng nhất của Shakespeare và cũng là một trong những câu chuyện tình yêu nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại.
Chuyện nói về một cuộc tình lãng mạn của Romeo và Juliet. Hai người thuộc hai dòng họ kẻ thù tại thành phố Verona, Ý. Tuy vậy, định mệnh đã cho họ gặp và yêu nhau, dù kết thúc tình yêu thực sự là một bi kịch .
Cốt truyện

Romeo và Juliet được viết vào khoảng [1594]-[1595], dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ. Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ Montague và Capulet có mối hận thù lâu đời. Romeo-con trai họ Montague và Juliet-con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet (do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó). Đôi trai gái này đã đến nhà thời nhờ tu sĩ Laurence bí mật làm lễ cưới. Đột nhiên xảy ra một sự việc: do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu sắc. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona. Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã tuyệt vọng, Juliet rút dao tự vẫn. Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ từ đấy.
Mời các bạn nghe nhạc!




LOVE STORY

Love Story (Chuyện tình) là một tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn nổi tiếng do nhà văn người Mỹ Erich Segal viết năm 1970. Tên đầy đủ của Segal là Erich Wolf Segal. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm 1937, mất ngày 17/01/2010. Ông từng là sinh viên của Đại học Havard (một trường là đại học danh tiếng và lâu đời nhất tại Hoa Kỳ - từ năm 1636, cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên ở châu Mỹ), từng giảng dạy môn văn chương cổ điển Hy Lạp và Latin tại các trường đại học Harvard, Yale và Princeton. Nguyên tác của tác phẩm là kịch bản của một bộ phim cũng do Erich Segal viết.
Chuyện phim viết về mối tình lãng mạn giữa một sinh viên luật Harvard con nhà dòng dõi (do Ryan O’Neal thủ diễn) với một nữ sinh viên âm nhạc vào Radcliffe nhờ học bổng (Ali MacGraw).
Hai sinh viên trường Harvard là Jenny Cavelieri (Ali MacGraw) và Oliver Barrett (Ryan O'Neal) làm quen nhau ở trong thư viện, nơi Jenny đi làm thêm. Oliver xuất thân từ 1 gia đình quý tộc giàu có; còn Jenny là con của một người nhập cư gốc Ý, làm nghề làm bánh mỳ. Vì quan hệ không "ngang tầm" nên bố mẹ Oliver không chấp nhận Oliver lấy Jenny. Với tình yêu mãnh liệt, Oliver tất nhiên vẫn lấy Jenny và chấp nhận chuyện bố mẹ từ mình. Hai đứa tự đi làm thêm để tự nuôi mình đến khi Oliver học xong và trở thành Luật sư. Nhưng khi cuộc sống đã đầy đủ, thảnh thơi hơn, thì tin xấu đã ập xuống đôi trẻ: Jenny bị bệnh máu trắng. Để có tiền chữa bệnh cho vợ bằng những phương pháp tốt nhất có thể, Oliver 1 lần nữa bất chấp sự tự trọng của mình để đến vay tiền bố mẹ. Nhưng cuối cũng, mọi cố gắng của các bác sỹ cũng không cứu nổi Jenny...
Tiểu thuyết Love Story được xuất bản vào đúng dịp Valentine 14 tháng 2 năm 1970. Nó nhanh chóng được biết đến và được bầu chọn là một trong số những tiểu thuyết bán chạy nhất nước Mỹ năm 1970. Truyện đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Một câu nói trong phim và cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu: “Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc”. Phần sau của câu truyện Love Story là Oliver's Story được xuất bản năm 1977.
Bộ phim Love Story được trình chiếu vào ngày 16 tháng 12 năm 1970. Sau đó nó đã đoạt 01 giải Oscar, 05 giải Quả cầu vàng, 2 giải David (của Italia) và 01 giải Golden Screen (Đức). Khi bộ phim được chiếu ở miền Nam Việt Nam (khoảng 1972), nó đã tạo ra một sơn sốt vé ở tất cả các rạp. Người ta chen chúc nhau cố mua vé để vào xem cho bằng được. Trong những năm gần đây, ở Harvard vẫn có lệ mỗi năm cho chiếu phim Love Story vào dịp đón tiếp tân sinh viên.
Thành công của bộ phim còn nhờ có bài hát trong phim do Francis Lai viết, bài Love Story. Đến nay, dù đã qua 40 năm, bài hát này vẫn được nhiều người yêu thích và được xem là một tình khúc bất tử.
Mời các bạn nghe nhạc lời tiếng Anh:


...và lời Việt do ca sĩ Quang Dũng trình bày: