*Khổng Tử nói rằng: "kẻ tiểu nhân tranh luận nhằm giành thắng thua, người quân tử tranh luận nhắm tìm ra chân lý" -
"Trong thế giới này, chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu, mà còn vì sự im lặng đáng sợ của cả những người tốt."
— Martin Luther King-
Chopin từng đã nói về Tristesse : “Cả cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ có thể tìm thấy lần nữa một giai điệu đẹp đến thế.” Cũng như suốt quãng đời tha hương, Chopin không bao giờ được trở lại tổ quốc Ba Lan hay lãng quên được người con gái tóc vàng đã cự tuyệt tình yêu đầu đời của ông nơi quê nhà.
Về sức hấp dẫn của âm nhạc Chopin, nghệ sĩ piano nổi tiếng người Ba Lan Arthur Rubinstein đã nói:
“Chopin là một thiên tài hấp dẫn toàn cầu. Âm nhạc của ông chinh phục hầu hết mọi loại khán thính giả. Khi những nốt đầu tiên của Chopin vang lên trong phòng hòa nhạc, mọi người liền tỏ dấu hiệu vui sướng vì nhận ra.
Đàn ông và phụ nữ khắp thế giới biết về âm nhạc của ông. Họ yêu thích nó. Họ xúc động vì nó. Ấy thế mà nó không phải là “âm nhạc Lãng mạn” theo nghĩa của Byron. Nó không kể những câu chuyện hay vẽ những bức tranh. Nó diễn cảm và riêng tư nhưng vẫn là nghệ thuật thuần túy.
Ngay cả trong thời đại nguyên tử trừu tượng này, nơi mà xúc cảm không phải là thời thượng, Chopin vẫn tồn tại. Âm nhạc của ông là ngôn ngữ giao tiếp toàn cầu của nhân loại. Khi tôi chơi nhạc Chopin, tôi biết là tôi nói một cách trực tiếp với trái tim của con người!”
Bản Étude No. 3 giọng Mi trưởng trong tập tác phẩm này, còn được gọi bằng những cái tên Pháp như Tristesse (Nỗi buồn) hay L"intimité(Thân tình), có lẽ là étude được nhiều người biết đến nhất của Chopin. Đây là tác phẩm đầu tiên trong số những étude tương đồng với các nocturne của chính ông hơn là một bài tập kỹ thuật truyền thống.
Étude No. 3 giọng Mi trưởng được gọi là một khúc thơ nhỏ bằng âm nhạc và cách phân nhịp có thể hát lên được tuyệt diệu của nó (cantabile) bộc lộ tình yêu lớn lao mà Chopin dành cho thể loại opera.
Nguon:TuanVietnam.net
Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp , mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc việnWarsawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.
Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.
Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.
Titanic là bộ phim kể về vụ đắm tàu Titanic - một trong những sự kiện kinh hoàng nhất thế kỉ 20 - đã được đạo diễn James Cameron dàn dựng thành một trong những bộ phim nổi tiếng nhất mọi thời đại. Bộ phim hoành tráng của Hollywood với kinh phí sản xuất trên 200 triệu USD, là một hiện tượng của điện ảnh thời gian đó. Đây còn là phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới và đoạt được 11 giải Oscar
"Cốt truyện không thể viết hay hơn được nữa...Sự sánh đôi của kẻ giàu người nghèo, trách nhiệm của giới tính được đề cao và thực thi cho đến chết (phụ nữ trước nhất), chủ nghĩa Khắc kỷ và tính cách quý phái của một thời đã qua, sự hoành tráng của con tàu vĩ đại được so sánh cùng với sự ngu dại của con người khăng khăng lái con tàu băng qua đêm tối. Trên hơn cả là bài học: cuộc sống là một sự bất tiền định, tương lai là một điều không thể biết trước hoặc suy tính trước được."
Bộ phim mở đầu với việc một nhóm thăm dò dưới đáy biển trong thập niên 1990 đã phát hiện ra bức tranh của một người con gái tên Rose DeWitt Bukater (Kate Winslet) trong con tàu Titanic bị đắm đó. Vô tình, việc họ tìm thấy bức tranh và đang chiếu trên TV được bà lão Rose đó xem và nhận ra, bà lão ấy chính là cô gái trong bức tranh. Từ đây họ được nghe kể về câu chuyện của một người phụ nữ sống sót trong chuyến tàu Titanic định mệnh, người đã sống thọ tới hơn trăm tuổi.
Rose sinh ra ở một gia đình quyền quý ở Philadelphia, mới 17 tuổi cô đã được đính hôn với Caledon Hockley (Billy Zane). Thông mình, đĩnh đạc và xinh đẹp dù mang trong mình sự nổi loạn ngầm, Rose được dạy dỗ từ thuở ấu thơ tất cả những điều của phụ nữ quý tộc. Lời hứa hôn của Rose với Hockley - người thừa kế nhà máy luyện thép thịnh vượng tại Pittsburgh và là kẻ có tính kiêu ngạo vũ phu - là một vận may tuyệt vời với một gia đình đang xuống dốc. Họ được xem là một cặp đôi hoàn hảo của sự giàu có và địa vị xã hội nhưng đó là sự ép buộc đối với Rose. Quá phẫn uất, Rose định tự tử nhưng được cứu bởi Jack Dawson (Leonardo DiCaprio), một chàng họa sĩ nghèo phóng khoáng, đẹp trai, hài hước, đang trên đường tìm cơ hội lập nghiệp ở Mỹ. Tình yêu đến với họ thật tự nhiên và dịu dàng.
Cuộc sống tự do phóng khoáng với nụ cười luôn nở trên môi, Jack Dawsonđã hẫp dẫn Rose. Cô gái quý tộc này đã từ bỏ tất cả để hòa nhập vào cuộc sống không có sự trưởng giả, dối trá mà chỉ toàn những con người thân thiện luôn sẵn sàng mỉm cười với cô. Những điệu nhảy nhịp nhàng, những trò chơi đơn giản mà thú vị, những câu chuyện đời thường, tất cả những gì Rose chưa từng biết tới khi sống trong tầng lớp quý tốc thì giờ đây cô đã được chứng kiên tận mắt. Với cô đây mới thực sự là cuộc sống và cuộc sống ấy càng hạnh phúc hơn khi có tình yêu của Jack.
Nhưng chuyến tàu định mệnh đã thay đổi toàn bộ số phận hành khách trên con tàu cũng như những dự tính, ước vọng của đôi tình nhân Jack & Rose. Một thảm họa đã xảy ra khiến mọi chuyện lệch khỏi quỹ đạo không còn đi theo kế hoạch: Tinatic va phải một tảng băng trôi. Người ta nháo nhào tranh nhau xuống thuyền cứu hộ, thậm chí dám cướp nhau một cái áo phao. Tồi tệ hơn, giới quý tộc đã khóa cửa không cho những người thuộc tầng lớp bình dân vào khoang tàu dưới chỉ vì sợ họ tranh mất cơ hội sống của họ. Lúc này Jack đang bị kẹt bên một đường ống dẫn nước vì vướng vào một vụ vu oan giá họa, người ta nghi ngờ anh ăn cắp chuỗi ngọc trang sức quý giá của Hockley tặng Rose. Nước đang tràn vào tàu, lạnh buốt xương. May sao vì tình yêu Rose đã không xuống thuyền cùng mẹ mà chạy đi tìm Jack, kịp thời cứu anh thoát chết trước khi nước ngập vào. Hai người chạy trốn, thoát hiểm cùng nhau cho đến khi con tàu bị dựng đứng lên rồi gẫy ra làm đôi. Chỉ có một số nhỏ thoát chết còn hàng ngàn hành khách, đa phần là người thuộc tầng lớp bình dân, đã thiệt mạng. Họ chết vì cái lạnh của nước biển, họ chết vì cái lạnh lùng tàn nhẫn của một số người ham sống sợ chết.
Trong giờ phút lênh đênh giữa đại dương, Jack đã nhường người yêu một tấm phản khá to. Rose may mắn được nằm trên một tấm phản gỗ trôi dập dềnh trên mặt biển, còn Jack thì đã vĩnh viễn rời xa cô trong làn nước giá lạnh. Xung quanh cô toàn xác người chết cóng, bản thân cô cũng đã quá mệt mỏi nhưng vì lời hứa Jack, cô đã quyết tâm sống. Cô lăn mình xuống nước băng giá, vùng vẫy tới gần xác một thủy thủ để lấy cái còi. Cô thổi những hơi lạnh buốt vào chiếc còi lấy được với hy vọng sẽ gây được sự chú ý. Và rồi người chỉ huy của chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng quay nhìn thấy cô và Rose sống sót.
Ký ức buồn vui về Jack đã đi theo Rose suốt cả cuộc đời, để bây giờ bà Rose đang sắp bước sang tuổi 101 ngồi kể chuyện cho những người thăm dò tàu Titanic về một người mà bà thực sự yêu, một người đã đem đến cho bà cuộc sống chân thực.
Ngay đêm kể xong câu chuyện, Rose đã qua đời, một mình và thanh thản. Linh hồn bà đến với Jack tại con tàu Titanic dưới đáy biển, nơi họ đều trở về thời thanh xuân ban đầu. Một kết thúc có hậu cho họ.
Và xin mời các bạn nghe ca khúc : My Heart Will Goes On - ca khúc chính thức trong phim do Celine Dion trình bày.
HUYỀN THOẠI VỀ TÀU TITANIC
Tàu RMS Titanic (hay còn gọi là SS Titanic) được khởi công xây dựng vào năm 1909 và hoàn thành vào năm 1912, là sản phẩm của hãng tàu thuyền The White Star Line. Nó đã trở nên nổi tiếng vì nó là tàu chở khách vượt Đại Tây Dương lớn nhất được xây dựng vào thời bấy giờ. Nó còn được gọi là RMS (Royal Mail Ship hay Steamer) Titanic, vì nó cũng có trách nhiệm đưa thư từ Anh Quốc sang bên kia đại dương. Tên gọi của nó, « Titanic » cũng có ý nghĩa : có nguồn gốc từ tên người khổng lồ Titan trong thần thoại Hy Lạp, « titanic » trong tiếng Anh có nghĩa là « to lớn, khổng lồ, vĩ đại ». Nhưng sự kiện khiến nó đi vào lịch sử chính là vào chuyến hải hành đầu tiên và đáng tiếc cũng là cuối cùng của nó, con tàu đã đâm vào một tảng băng trôi ở giữa Đại Tây Dương và bị đắm v ào th áng 4 năm 1912, đem theo cùng nó xác của 1500 hành khách, thuỷ thủ và vô số của cải, hàng hoá. Đó là một trong những tai nạn hàng hải lớn nhất thế giới (vào thời bình).
Titanic có một đoàn thuỷ thủ gồm 899 người, và có thể chứa 3300 hành khách trên tổng số 10 boong tàu. Titanic ngoài ra cũng rất nổi tiếng về sự sang trọng và tiện nghi : ngoài phòng ngủ cho hành khách, còn có bể bơi, thang máy cho hành khách thuộc tầng lớp quý tộc và trung bình, phòng tập thể dục, phòng tắm, v.v… Những hành khách còn lại thì dùng cầu thang bộ, tuy vậy nó rất to lớn, và ta có thể thấy, trong bộ phim Titanic nổi tiếng đã đạt 11 giải Oscar vào năm 1998, thì đạo diễn James Cameron đã cho làm lại chiếc cầu thang này y hệt như cái gốc.
Trước chuyến hải hành duy nhất của nó, người ta đã cho rằng Titanic là con tàu không thể bị đánh chìm – Unsinkable : người ta đã khẳng định mạnh mẽ rằng « Ngay đến Chúa cũng không thể làm chìm con tàu này ». Sở dĩ các nhà sản xuất có thể tự tin như vậy về sự an toàn của Titanic, là vì nó được trang bị rất nhiều máy móc hiện đại và tinh xảo nhất thời bấy giờ, cộng thêm hai lớp vỏ bằng thép tôi luyện kỹ càng và được ghép bằng đinh tán, 16 khoang tàu được ngăn bởi 15 vách, và 8 máy bơm có thể làm bay hơi 400 tấn nuớc trong một giờ. Nhưng có lẽ những máy móc và trang thiết bị này cũng không thể chống lại được thảm kịch đã xảy ra với con tàu này
Ngày 17/4/1912 ( 3 ngày sau con tàu tử nạn ) , tại San Francisco người ta dựng lại mô hình tàu Titanic với kích cỡ đúng với con tàu thật . Mô hình tàu được thiết kế chiếm trọn con đường San Francisco’s Market và cắt ngang đường Powell , làm nền cho mô hình là tòa building James Flood .Tòa nhà này cao 180 feet ( tương đương 57 m) và mô hình tàu Titanic cũng như vậy.
Bộ phim được coi là một trong những phim hay nhất của lịch sử điện ảnh, nó luôn xếp ở các vị trí dẫn đầu trong các bảng xếp hạng phim hay uy tín. Bố già được bình chọn là bộ phim xếp thứ 2 trong Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ[1] và cũng đứng thứ 2 trong danh sách 250 phim hay nhất của trang web dữ liệu điện ảnh uy tín IMDb[2]. Đây cũng là bộ phim đầu bảng trên các danh sách phim hay nhất của Metacritic và Rotten Tomatoes[3][4].
Bố già được nối tiếp bởi 2 phần là Bố già phần II (The Godfather Part II) sản xuất năm 1974 và Bố già phần III (The Godfather phần III) sản xuất năm 1990.
NOI DUNG PHIM
Phim bắt đầu bằng cảnh đám cưới của Connie Corleone, con gái duy nhất của ông trùm Vito Corleone với Carlo Rizzi vào cuối mùa hè năm 1945 ở Long Island, New York. Vì phong tục "không người Sicilia nào được từ chối những đề nghị vào ngày cưới của con gái họ", Vito Corleone, thường được bạn bè và người cộng tác gọi là "Bố già", cùng với người cố vấn Tom Hagen phải ngồi nghe những thỉnh cầu từ bạn bè và đối tác làm ăn. Cùng lúc đó, con trai út của nhà Corleone, Michael, người vừa trở về sau chiến tranh với tư cách một anh hùng, kể cho bạn gái của anh là Kay Adams những giai thoại về cuộc đời tội ác của cha mình và cam đoan với cô rằng anh không giống với gia đình mình.
Trong số khách mời đám cưới có ca sĩ nổi tiếng Johnny Fontane, con đỡ đầu của Vito Corleone, tới để đề nghị Bố già giúp đỡ anh ta có được vai diễn trong một bộ phim Hollywood của Jack Woltz, người trước đó đã từ chối thẳng thừng Fontane. Don Corleone đã nói với Johnny:
"Ta sẽ đưa ra một đề nghị mà hắn không thể chối từ - I'm gonna make him an offer he can't refuse".
Hagen được cử tới California để thương lượng nhưng Woltz vẫn giận dữ nói rằng không bao giờ giao vai cho Fontane. Sáng hôm sau khi Woltz thức dậy, lão nhận ra rằng mình đang nằm cạnh cái đầu đầy máu của con ngựa quý mà lão giới thiệu với Hagen trước đó.
Sau đó nhà Corleone gặp tay buôn bán heroin Virgil Sollozzo biệt danh "gã người Thổ" (The Turk), người được hậu thuẫn bởi gia đình Tattaglia thù địch. Gã đề nghị Don Corleone bảo vệ về mặt chính trị và đầu tư để gã nhập và phân phối một lượng ma túy lớn tuy nhiên Corleone đã từ chối. Sau đó Hagen bị Sollozzo và tay sai bắt cóc, còn bản thân Bố già cũng bị ám sát không thành nhưng trọng thương. Sollozzo thuyết phục Hagen đề nghị Sonny chấp nhận vụ làm ăn mà cha anh ta đã từ chối, Sonny cũng vẫn bỏ qua nó, cũng có nghĩa đã khơi ngòi cho cuộc chiến với Sollozzo và gia đình Tattaglia. Bây giờ, nhà Corleone phải chuẩn bị để chống lại cuộc chiến toàn diện với 4 gia đình lớn còn lại.
Michael, người được các gia đình mafia khác coi là "dân thường" trong cuộc xung đột này, đến thăm bố mình tại bệnh viện, anh nhận ra không có vệ sĩ nào của ông canh gác. Biết rằng Bố già sắp bị giết, Michael vội chuyển ông vào một phòng khác, gọi Sonny dến cứu trợ và đi ra canh chừng cửa chính. Sau khi lừa được vài tay chân của Sollozzo, anh gặp cảnh sát đến bệnh viện trong đó có tay đại úy bị mua chuộc McCluskey, gã này làm vỡ quai hàm của Michael chỉ với một cú đấm. Ngay sau đó Hagen xuát hiện với những "thám tử tư" được phép mang súng để bảo vệ Don Corleone.
Nhận thấy tính mạng của Vito Corleone đang bị đe dọa, Michael tình nguyện đi giết Sollozzo và McCluskey. Anh hẹn gặp được Sollozo và McCluskey trong một nhà hàng sắp đặt trước với lý do là thương lượng hòa bình. Michael lấy cớ đi vào nhà vệ sinh, ở đây anh lấy khẩu súng đã được giấu sẵn và ám sát Sollozzo, McCluskey. Để tránh bị bắt vì tội giết người, Michael được nhà Corleone gửi về đảo Sicilia, nơi anh sống dưới sự bảo vệ của mafia địa phương. Cũng ở đây, anh yêu và cưới một cô gái địa phương tên là Apollonia, người sau đó chết trong một vụ ám sát không thành nhằm vào Michael.
Michael Corleone (Al Pacino) và Tom Hagen (Robert Duvall)
Cùng lúc đó ở New York, Don Corleone trở về nhà và nổi điên khi biết Michael là người đã giết Sollozzo và McCluskey. Vài tháng sau, vào năm 1948, Sonny hành hung Carlo vì gã này đã thô bạo với với vợ, Connie, em gái của Sonny. Carlo vẫn tiếp tục hành hung Connie, lần này Sonny tự lái xe một mình đi tìm để giết gã, nhưng trên đường anh bị phục kích và bị một nhóm dùng súng máy giết chết. Thay vì trả thù cho Sonny, Don Corleone gặp người đứng đầu của nhóm 5 gia đình lớn nhằm thương lượng kết thúc chiến tranh giữa các gia đình mafia. Trong cuộc họp này, Bố già nhận ra rằng chính Don Barzini, chứ không phải Tattaglia, là người phải chịu trách nhiệm cho cuộc xung đột.
Được bảo đảm an toàn, Michael trở về nhà hơn một năm sau đó, anh gặp lại Kay người yêu cũ của mình và hỏi cưới cô. Vì Don Corleone đã gần như từ bỏ vị trí ông trùm, Sonny bị giết còn người anh Fredo tỏ vẻ không có khả năng trong việc lãnh đạo băng nhóm, Michael phải đứng ra nhận trách nhiệm đứng đầu gia đình Corleone và anh tuyên bố rằng công việc làm ăn của gia đình sẽ sớm được hợp pháp hóa hoàn toàn. Hai caporegime (lãnh đạo cao cấp) của gia đình Corleone là Peter Clemenza và Salvatore Tessio phàn nàn rằng họ bị gia đình Barzini chèn ép và đề nghị đánh trả nhưng Michael từ chối và nhận ra rằng hai người này có thể sẽ phản lại nhà Corleone. Anh quyết định rời công việc làm ăn của gia đình về bang Nevada.
Kay Adams (Diane Keaton)
Trong một cuộc họp kín, Vito cho rằng kẻ thù sẽ tìm cách giết Michael thông qua một người cộng tác tin cậy, không lâu sau ông ta chết vì lên cơn đau tim khi đang chơi với đứa cháu trong vườn cà chua. Trong đám ma, Tessio truyền đạt đề nghị một cuộc gặp mặt của Barzini với Michael, chứng tỏ rằng suy đoán của Vito trước đó là chính xác. Michael sắp đặt cuộc thanh trừng Moe Greene, Philip Tattaglia, Emilio Barzini, Salvatore Tessio, Anthony Stracci và Ottilio Cuneo, tất cả sẽ được tiến hành vào lễ đặt tên thánh cho con trai thứ hai của Connie và Carlo mà Michael là cha đỡ đầu. Ngay sau lễ đặt tên, Michael tra hỏi Carlo về cái chết của Sonny và lừa cho gã phải công nhận vai trò của mình trong việc sắp đặt vụ phục kích. Michael nói với gã: "Hôm nay, ta sẽ giải quyết ổn thỏa mọi việc của gia đình" (Today, I settle all Family business), anh cho Carlo biết hình phạt của hắn là bị tống cổ khỏi công việc làm ăn và phải bay đến Nevada ngay lập tức. Carlo lên ô tô tới sân bay, và bị Clemenza xiết cổ đến chết.
Sau đó, Connie đối mặt với Michael và buộc tội anh trai đã giết chồng mình. Kay chất vấn Michael về lời buộc tội của Connie, nhưng anh từ chối trả lời. Kay cố nài nỉ và cuối cùng Michael phải nói dối rằng anh không hề liên quan tới cái chết của Carlo, Kay tin vào lời nói của chồng. Ở cảnh kết phim, Kay thấy Clemenza và caporegime mới của gia đình Corleone, Rocco Lampone, đang bày tỏ sự kính trọng với Michael, hôn tay anh và gọi anh là "Don Corleone". Cánh cửa đóng lại, Kay nhận ra rằng Michael đã trở thành Bố già mới.
Romeo và Juliet là một trong những vở kịch bất hủ trên sân khấu kịch nghệ quốc tế do William Shakespeare viết. Tình tiết chính của câu chuyện là tình yêu giữa hai người trẻ tuổi mà số mệnh không cho họ sống bên nhau, vì hai người là con của hai dòng họ vốn đã căm ghét nhau nhiều thế hệ. Có thể nói Romeo và Juliet là một trong những vở kịch xuất sắc và nổi tiếng nhất của Shakespeare và cũng là một trong những câu chuyện tình yêu nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại.
Chuyện nói về một cuộc tình lãng mạn của Romeo và Juliet. Hai người thuộc hai dòng họ kẻ thù tại thành phố Verona, Ý. Tuy vậy, định mệnh đã cho họ gặp và yêu nhau, dù kết thúc tình yêu thực sự là một bi kịch .
Cốt truyện
Romeo và Juliet được viết vào khoảng [1594]-[1595], dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ. Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ Montague và Capulet có mối hận thù lâu đời. Romeo-con trai họ Montague và Juliet-con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet (do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó). Đôi trai gái này đã đến nhà thời nhờ tu sĩ Laurence bí mật làm lễ cưới. Đột nhiên xảy ra một sự việc: do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu sắc. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona. Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã tuyệt vọng, Juliet rút dao tự vẫn. Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ từ đấy.
Mời các bạn nghe nhạc!
LOVE STORY
Love Story (Chuyện tình) là một tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn nổi tiếng do nhà văn người Mỹ Erich Segal viết năm 1970. Tên đầy đủ của Segal là Erich Wolf Segal. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm 1937, mất ngày 17/01/2010. Ông từng là sinh viên của Đại học Havard (một trường là đại học danh tiếng và lâu đời nhất tại Hoa Kỳ - từ năm 1636, cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên ở châu Mỹ), từng giảng dạy môn văn chương cổ điển Hy Lạp và Latin tại các trường đại học Harvard, Yale và Princeton. Nguyên tác của tác phẩm là kịch bản của một bộ phim cũng do Erich Segal viết.
Chuyện phim viết về mối tình lãng mạn giữa một sinh viên luật Harvard con nhà dòng dõi (do Ryan O’Neal thủ diễn) với một nữ sinh viên âm nhạc vào Radcliffe nhờ học bổng (Ali MacGraw).
Hai sinh viên trường Harvard là Jenny Cavelieri (Ali MacGraw) và Oliver Barrett (Ryan O'Neal) làm quen nhau ở trong thư viện, nơi Jenny đi làm thêm. Oliver xuất thân từ 1 gia đình quý tộc giàu có; còn Jenny là con của một người nhập cư gốc Ý, làm nghề làm bánh mỳ. Vì quan hệ không "ngang tầm" nên bố mẹ Oliver không chấp nhận Oliver lấy Jenny. Với tình yêu mãnh liệt, Oliver tất nhiên vẫn lấy Jenny và chấp nhận chuyện bố mẹ từ mình. Hai đứa tự đi làm thêm để tự nuôi mình đến khi Oliver học xong và trở thành Luật sư. Nhưng khi cuộc sống đã đầy đủ, thảnh thơi hơn, thì tin xấu đã ập xuống đôi trẻ: Jenny bị bệnh máu trắng. Để có tiền chữa bệnh cho vợ bằng những phương pháp tốt nhất có thể, Oliver 1 lần nữa bất chấp sự tự trọng của mình để đến vay tiền bố mẹ. Nhưng cuối cũng, mọi cố gắng của các bác sỹ cũng không cứu nổi Jenny...
Tiểu thuyết Love Story được xuất bản vào đúng dịp Valentine 14 tháng 2 năm 1970. Nó nhanh chóng được biết đến và được bầu chọn là một trong số những tiểu thuyết bán chạy nhất nước Mỹ năm 1970. Truyện đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Một câu nói trong phim và cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu: “Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc”. Phần sau của câu truyện Love Story là Oliver's Story được xuất bản năm 1977. Bộ phim Love Story được trình chiếu vào ngày 16 tháng 12 năm 1970. Sau đó nó đã đoạt 01 giải Oscar, 05 giải Quả cầu vàng, 2 giải David (của Italia) và 01 giải Golden Screen (Đức). Khi bộ phim được chiếu ở miền Nam Việt Nam (khoảng 1972), nó đã tạo ra một sơn sốt vé ở tất cả các rạp. Người ta chen chúc nhau cố mua vé để vào xem cho bằng được. Trong những năm gần đây, ở Harvard vẫn có lệ mỗi năm cho chiếu phim Love Story vào dịp đón tiếp tân sinh viên.
Thành công của bộ phim còn nhờ có bài hát trong phim do Francis Lai viết, bài Love Story. Đến nay, dù đã qua 40 năm, bài hát này vẫn được nhiều người yêu thích và được xem là một tình khúc bất tử.
Bài hát “La Paloma”: có thể còn đôi điều bạn chưa biết?
Trên biển Carribe
“La Paloma” thuộc loại bài hát phổ biến rộng rãi nhất thế giới. Tác giả là Sebastián Iradier, sau này quen gọi theo bút danh là Yradier, sinh ngày 20/1/1809 và mất ngày 6/12/1865. Ông là người Tây Ban Nha thuộc sắc tộc thiểu số Basque. Năm 1861, ông sang thăm Cuba và trước lúc trở về quê hương, năm 1863, ông sáng tác “La Paloma” với cảm hứng từ bãi biển Carribe thơ mộng xen nỗi nhớ quê hương và những người thân yêu của mình. Hai năm sau ông mất. Lúc đó còn rất ít người biết đến ông và ông đã không thể hình dung được tác phẩm của mình được hát nhiều đến thế nào trên khắp thế giới. Trong tiếng Tây Ban Nha, “La Paloma” là chim bồ câu. Giai điệu đằm thắm mang phong vị “habanera”từ điệu nhảy dân gian của những người dân vùng Habana trên hòn đảo Cuba thời đó nên có nơi đã lầm tưởng “La Paloma” là một bài dân ca.Lời ca thể hiện xúc cảm trước biển rộng bao la, sóng xô lớp lớp, những con tàu ra khơi với các chàng thủy thủ mang theo hình ảnh những người thân yêu mắt ngấn lệ trên bờ dõi theo và những chú chim câu để chuyển những bức thư tâm tình về quê nhà. Những lời ca của bài hát được diễn tả bằng đủ loại ngôn ngữ trên thế giới nhiều đến mức không thể kể xiết. Ngay ở Việt Nam cũng vậy, mỗi ca sĩ hát lời theo ý thích khác nhau, song nói chung vẫn họ lưu giữ “hồn” nguyên tác của Yradier. Một trong những lời ca đã được đặt từ hơn 50 năm trước như sau:
“Khi tôi rời quê hương Habana làng quê mong chờ,
Trên cao cánh bồ câu đang lướt nơi chân mây xa mờ,
Thuyền ai đang lênh đênh, làn khói biếc sương bay ngang lưng trời,
Huyền thoại về các chàng thủy thủ thời xưa mang theo chim câu để đưa tin về nhà đã lưu truyền từ xa xưa. Khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên, những trận chiến ác liệt đã diễn ra giữa Hy Lạp và Ba Tư (nay gọi là Iran), mỗi bên đều có lúc thắng, lúc thua. Một trong những trận ác liệt có tiếng nhất là trận Marathon. Khi thắng trận, một người lính Hy Lạp đã chạy một mạch vượt qua quãng đường 42,195 km về đến đại bản doanh báo tin và chỉ kịp thốt lên: « Quân ta đã thắng ! » thì gục ngã và chết vì kiệt sức. Để kỷ niệm sự kiện này, các cuộc đua thể thao Olympics sau đó và cho đến ngày nay đều có thi chạy đường dài marathon với cự ly 42,195 km.
Dãy núi trên bán đảo Athos (Hy Lạp) nhô ra biển
Còn một lần khác, hải thuyền của quân Ba Tư đang chuẩn bị đổ bộ lên chỗ dãy núi nhô ra biển của bán đảo Athos, phía tây bắc Hy Lạp, thì gặp bão. Toàn bộ 300 chiến thuyền và hàng vạn chiến binh Ba Tư bị chìm.
Đứng trên núi nhìn xuống, người Hy Lạp thấy những đàn chim câu trắng bay ra từ những chiến thuyền đang chìm và người ta cho rằng các thủy thủ Ba Tư đã mang theo chúng để nhắn tin về nhà. Trong giờ phút lâm chung, các chú chim câu ấy đã được thả ra để đưa về quê nhà tin nhắn cuối cùng của họ.
Mời các bạn thư giãn và thưởng thức bản nhạc «La Paloma« loi Viet do ca si Khanh Ly hat:
Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong “In a Persianmarket”:
Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu
Lắng nghe bản nhạc “In a Persianmarket”, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một thế giới cổ tích diệu kỳ. Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”.
Bản nhạc kết thúc cũng là lúc các em nhỏ vừa làm quen với rất nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên sân khấu. Có đủ 4 bộ: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.
Trong những chương trình giới thiệu về các loại nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng cho các em thiếu nhi, “In a Persianmarket”(Phiên chợ Ba Tư) là một trong số những tác phẩm quen thuộc và luôn gây nhiều hứng thú.
Đây là một tác phẩm của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh Albert William Ketèlbey (1875 – 1959).
Thành công lớn nhất của ông là những tác phẩm mang tính miêu tả. Đó là những tác phẩm thể hiện khả năng xuất sắc của Ketèlbey trong việc nắm bắt sắc thái bầu không khí xung quanh.
Các tác phẩm này rất phổ biến với dàn nhạc trên sân khấu và cả trong hình thức những bản nhạc in. Mặc dù thể loại âm nhạc này hiện giờ đã mai một nhưng vào thời đó, nó được đánh giá cao và đem lại danh tiếng lừng lẫy cho tác giả.
“In a Persianmarket”, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.
Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.
Dù chỉ là một tác phẩm nhạc nhẹ viết cho dàn nhạc, nhưng tác dụng giáo dục âm nhạc của “In a Persianmarket” không kém gì so với những tác phẩm cổ điển có cùng mục đích như “Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ” của Benjamin Britten; “Hội giả trang của các con thú” của Camille Saint-Saëns; “Pechia và chó sói” của Sergei Prokofiev…
Còn các bạn độc giả, mời bạn dạo một vòng nữa qua chợ bằng cách mở lại “In a Persianmarket” một, hai và nhiều lần nữa. Nhưng nhớ là: đừng mải ngắm nhìn công chúa quá kẻo sẽ va phải chiếc giỏ của người dụ rắn đấy nhé! Nguồn: tuanvietnam