Thứ Hai, ngày 18 tháng 3 năm 2013

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà

Lê Hựu Hà (1946 - 2003) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng với các ca khúc Vào hạ, Hãy yêu như chưa yêu lần nào, Yêu em, Hãy vui lên bạn ơi... Ông được đánh giá là một trong những người Việt hóa nhạc trẻ Âu-Mỹ đầu tiên ở Việt Nam.
Tiểu sử
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh năm 1946.
Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu tại Đại hội nhạc trẻ của trường trung học Taberd.
Đến đầu thập niên 1970, ông nổi lên cùng với ban nhạc Phượng Hoàng. Các ca khúc do ông sáng tác được phổ biến lúc này là Tôi muốn, Lời người điên, Hãy nhìn xuống chân...
Sau khi Phượng Hoàng tan rã, ông thành lập ban nhạc Mây Trắng và tung ra ca khúc mới như Hãy ngước mặt nhìn đời, Đôi khi ta muốn khóc.
Sau năm 1975, ban nhạc Hy Vọng gồm Mạnh Tuấn, Huỳnh Hiệp, Bảo Chân, Lý Được, Minh Hải, Quốc Dũng và các ca sĩ Sĩ Thanh, Tuyết Loan, Trang Kim Yến của Lê Hựu Hà là một trong những ban nhạc nổi bật nhất đương thời. Phiêu Bồng là địa chỉ cuối cùng của Lê Hựu Hà hoạt động dưới hình thức ban nhạc.
Lê Hựu Hạ qua đời ngày 11 tháng 5 năm 2003 vì tai biến mạch máu não tại nhà riêng ở đường Hồ Hảo Hớn, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vi ngot doi moi - Lê Hựu Hà


Hãy ngước mặt nhìn đời



Yeu doi yeu nguoi


Thứ Ba, ngày 12 tháng 3 năm 2013

La Paloma - Canh Buom Xa Xua - Bài hát “La Paloma”: có thể còn đôi điều bạn chưa biết?

Bài hát “La Paloma”: có thể còn đôi điều bạn chưa biết?

  
Trên biển Carribe
La Paloma” thuộc loại bài hát phổ biến rộng rãi nhất thế giới. Tác giả là Sebastián Iradier, sau này quen gọi theo bút danh là Yradier, sinh ngày 20/1/1809 và mất ngày 6/12/1865. Ông là người Tây Ban Nha thuộc sắc tộc thiểu số Basque. Năm 1861, ông sang thăm Cuba và trước lúc trở về quê hương, năm 1863, ông sáng tác “La Paloma” với cảm hứng từ bãi biển Carribe thơ mộng xen nỗi nhớ quê hương và những người thân yêu của mình. Hai năm sau ông mất. Lúc đó còn rất ít người biết đến ông và ông đã không thể hình dung được tác phẩm của mình được hát nhiều đến thế nào trên khắp thế giới. Trong tiếng Tây Ban Nha, “La Paloma” là chim bồ câu. Giai điệu đằm thắm mang phong vị “habanera”  từ điệu nhảy dân gian của những người dân vùng Habana trên hòn đảo Cuba thời đó nên có nơi đã lầm tưởng “La Paloma” là một bài dân ca.  Lời ca thể hiện xúc cảm trước biển rộng bao la, sóng xô lớp lớp, những con tàu ra khơi với các chàng thủy thủ mang theo hình ảnh những người thân yêu mắt ngấn lệ trên bờ dõi theo và những chú chim câu để chuyển những bức thư tâm tình về quê nhà. Những lời ca của bài hát được diễn tả bằng đủ loại ngôn ngữ trên thế giới nhiều đến mức không thể kể xiết. Ngay ở Việt Nam cũng vậy, mỗi ca sĩ hát lời theo ý thích khác nhau, song nói chung vẫn họ lưu giữ “hồn” nguyên tác của Yradier. Một trong những lời ca đã được đặt từ hơn 50 năm trước như sau:

“Khi tôi rời quê hương Habana làng quê mong chờ,     
Trên cao cánh bồ câu đang lướt nơi chân mây xa mờ,
Thuyền ai đang lênh đênh, làn khói biếc sương bay ngang lưng trời,
Lớp lớp sóng vỗ mênh mông đua theo cánh chim tuyệt vời.
Ôi! Chim câu trắng nhỏ xinh!
Qua quê ta chim dừng đôi cánh,
Hãy giùm ta đưa tấm lòng thương nhớ thiết tha
Về tận nơi mái nhà xa … »
Huyền thoại về các chàng thủy thủ thời xưa mang theo chim câu để đưa tin về nhà đã lưu truyền từ xa xưa. Khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên, những trận chiến ác liệt đã diễn ra giữa Hy Lạp và Ba Tư (nay gọi là Iran), mỗi bên đều có lúc thắng, lúc thua. Một trong những trận ác liệt có tiếng nhất là trận Marathon. Khi thắng trận, một người lính Hy Lạp đã chạy một mạch vượt qua quãng đường 42,195 km về đến đại bản doanh báo tin và chỉ kịp thốt lên: « Quân ta đã thắng ! » thì gục ngã và chết vì kiệt sức. Để kỷ niệm sự kiện này, các cuộc đua thể thao Olympics sau đó và cho đến ngày nay đều có thi chạy đường dài marathon với cự ly 42,195 km.
  
Dãy núi trên bán đảo Athos (Hy Lạp) nhô ra biển
Còn một lần khác, hải thuyền của quân Ba Tư đang chuẩn bị đổ bộ lên chỗ dãy núi nhô ra biển của bán đảo Athos, phía tây bắc Hy Lạp, thì gặp bão. Toàn bộ 300 chiến thuyền và hàng vạn chiến binh Ba Tư bị chìm.
Đứng trên núi nhìn xuống, người Hy Lạp thấy những đàn chim câu trắng bay ra từ những chiến thuyền đang chìm và người ta cho rằng các thủy thủ Ba Tư đã mang theo chúng để nhắn tin về nhà. Trong giờ phút lâm chung, các chú chim câu ấy đã được thả ra để đưa về quê nhà tin nhắn cuối cùng của họ.
Nguon: (BBT www.vncold.vn )
Mời các bạn thư giãn và thưởng thức bản nhạc "La Paloma"
Dan nhac giao huong do Andre Rieu chi huy:




Thứ Bảy, ngày 09 tháng 3 năm 2013

NHUNG BAN NHAC BAT HU




MARIAGE D'MUOR, tựa tiếng Anh là Wedding of love, tựa Việt là Hôn nhân vì tình.
Tac gia:Paul de Senneville, 1 nhà soạn nhạc, sản xuất âm nhạc người Pháp. Paul đã hoạt động trong ngành công nghiệp âm nhạc từ năm 1976. Ông cũng là người sáng tác phần lớn các bản nhạc mà nghệ sĩ piano lừng danh Richard Clayderman chơi. Mariage d'amour cũng không ngoại lệ, đừng nhầm là do Richard Clayderman sáng tác.Paul de Senneville đã từng hợp tác với những tên tuổi hàng đầu nước Pháp như Mireille Mathieu, Michel Polnareff, Dalida, và Claude François. 100 triệu bản album của ông đã được bán ra tại 57 quốc gia, trong đó có 290 đĩa vàng và 90 đĩa bạch kim. Ngoài âm nhạc, các sở thích khác của Paul de Senneville là đua ngựa và sưu tầm các tác phẩm hội họa hiện đại. Các nhạc phẩm khác đáng chú ý của ông là A comme amour (1978) Lettre à ma mère (1979) Eléana (1987) Sagittaire (1988) Comme ils sont loin les souvenirs (1994) Hungarian Sonata (1997) Chinese Garden (1998) Princesse du désert (1999) J 'aime les gens qui s'aiment (2001) Pour tout l'amour du monde (2004) Trister Coer.Mời các bạn cùng nghe bài MARIAGE D'AMUOR do nghệ sĩ piano lừng danh Richard Clayderman chơi:


A comme amour

love is blue


OUI DEVANT DIEU




CAM NHAN VE BAN NHAC"TREN DONG DANUDE XANH" - Johann Strauss

Johann Strauss

Dòng Sông Xanh - Johann Strauss





Lẽ ra không cần phải dài dòng khi giới thiệu bản nhạc valse bất hủ này của Johann Strauss Jr.
Trên thế giới chắc ít có bản nhạc nào khác được biết đến nhiều hơn là bản nhạc với những cái tên “An der schönen blauen Donau”, “Blue Danube Waltz”, “Le beau Danube bleu”, “Sul bel Danubio blu”,”El Danubio azul”, “Dòng Sông Xanh”... Và cứ mỗi vào đầu năm mới giàn nhạc giao hưởng “Wiener Philharmoniker” của Áo luôn dùng (cùng với bản “Radetzky March” của J. Strauss bố) nó để kết thúc buổi trình diễn truyền thống “New Year Concert” chào mừng năm mới được truyền thanh và truyền hình cho hàng trăm triệu người trên khắp địa cầu thưởng thức.


Johann Strauss Jr sáng tác “Donauwalzer” (bản nhạc valse sông Danube) vào năm 1867. Tựa đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau” (Bên dòng sông Danube xanh xinh đẹp). Lúc đầu bản nhạc valse này được viết như một bài hợp ca cho hội hợp ca nam của Vienne (Wiener Männergesangsverein). Bản nhạc nguyên thủy này không được đón nhận nồng nhiệt cho lắm, có lẽ vì lời nhạc của nó. Phần lời nhạc này do Josef Weyl đặt, ông này vốn là tay chuyên giúp vui trong hội hợp ca nam của Vienne nên ông đặt lời nhạc cho vui để hát trong lễ “Fasching”, một phần cũng là để phù hợp nhu cầu của công chúng nước Áo lúc đó đang muốn quên đi nỗi buồn thua trận ở Königgrätz trước quân nước Phổ. Có điều lời nhạc đó nghe ra rất ngây ngô đến tức cười, nên đã không được công chúng yêu thích
Chỉ vài tháng sau, khi Strauss tham dự Chợ Phiên Quốc Tế ở Paris và cần gấp vài bản nhạc mới để trình diễn, ông đã chuyển bài này thành một phiên bản cho giàn nhạc hoà tấu. Với cái tên "Le beau Danube bleu“ tác phẩm này đã thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên. Từ đó về sau bản "Dòng sông Danube xanh“ soạn cho giàn nhạc hoà tấu này được trình diễn khắp nơi và trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất của mọi thời.
Đã có lúc trong đời, Brahms từng nói câu:”Tôi sẽ đánh đổi lấy tất cả những gì tôi làm ra để viết đuợc một bản nhạc như bài “Der Blaue Donau” ( The blue Danube của Johann Strauss, trẻ hơn Brahms tám tuổi ).


Tương truyền rằng có lần người ta tổ chức ở Vienna một buổi trình diễn nhạc của Johann Strauss và người ta cho bán những quạt tay để các bà mệnh phụ phe phẩy khi đi nghe nhạc. Trên những quạt giấy ấy có vẽ hình quảng cáo minh họa bản nhạc “Dòng sông xanh”. Một bà mệnh phụ nào đấy gặp Brahms cũng đi dự buổi trình diễn và đưa quạt ra để xin ông chữ ký. Ông viết mấy chữ:”Than ôi ! Tiếc thay tác giả của nó lại không phải là Johann Brahms (ngụ ý: mà lại là Johann Strauss)!”

Xin moi cac ban nghe ban nhac bat hu nay.



Thứ Sáu, ngày 08 tháng 3 năm 2013

IN A PERSIAN MARKET (Phiên chợ Ba Tư) Andréieu)





Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong In a Persian market:
Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu
Lắng nghe bản nhạc In a Persian market, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một Bức vẽ một nàng công chúa xứ Ba Tưthế giới cổ tích diệu kỳ.
Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”.
Bản nhạc kết thúc cũng là lúc các em nhỏ vừa làm quen với rất nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên sân khấu. Có đủ 4 bộ: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.
Trong những chương trình giới thiệu về các loại nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng cho các em thiếu nhi, In a Persian market (Phiên chợ Ba Tư) là một trong số những tác phẩm quen thuộc và luôn gây nhiều hứng thú.

Đây là một tác phẩm của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh Albert William Ketèlbey (1875 – 1959).
Thành công lớn nhất của ông là những tác phẩm mang tính miêu tả. Đó là những tác phẩm thể hiện khả năng xuất sắc của Ketèlbey trong việc nắm bắt sắc thái bầu không khí xung quanh.

Các tác phẩm này rất phổ biến với dàn nhạc trên sân khấu và cả trong hình thức những bản nhạc in. Mặc dù thể loại âm nhạc này hiện giờ đã mai một nhưng vào thời đó, nó được đánh giá cao và đem lại danh tiếng lừng lẫy cho tác giả.
In a Persian market, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.
Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.

Dù chỉ là một tác phẩm nhạc nhẹ viết cho dàn nhạc, nhưng tác dụng giáo dục âm nhạc của In a Persian market không kém gì so với những tác phẩm cổ điển có cùng mục đích như “Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ” của Benjamin Britten; “Hội giả trang của các con thú” của Camille Saint-Saëns; “Pechia và chó sói” của Sergei Prokofiev…
Còn các bạn độc giả, mời bạn dạo một vòng nữa qua chợ bằng cách mở lại In a Persian market một, hai và nhiều lần nữa. Nhưng nhớ là: đừng mải ngắm nhìn công chúa quá kẻo sẽ va phải chiếc giỏ của người dụ rắn đấy nhé!
Nguồn: tuanvietnam


SERENADE (DA KHUC) - của Franz Schubert

Hoàn cảnh sáng tác
Bài Dạ Khúc bất hủ mà Franz Schubert sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Ở châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai thường có lối tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc, ban đêm đến đứng dưới cửa lầu "người đẹp" tự thể hiện bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình. Những bài nhạc lãng mạn này gọi là "serenade". Serenade thời Trung cổ và Phục hưng được biểu diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm bằng nhạc cụ có thể mang theo được (guitar, mandolin...).
Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ một bạn thân là ca sỹ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.
Moi ban nghe qua dan nhac giao huong:


Neu ban thich nghe Piano:


Tập tin:Franz Schubert by Wilhelm August Rieder 1875.jpg

Franz Peter Schubert sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Vienna, nước Áo. Bố ông, Franz Theodor Schubert, là thầy giáo nổi tiếng trong giáo khu, mẹ ông là người hầu của một gia đình giàu có trước khi lấy bố ông. Ông là một trong số 14 người con trong gia đình mà phần lớn đều chết yểu. Bố Schubert cũng là một nhạc sĩ, tuy không nổi danh nhưng là người thầy đầu tiên truyền dạy cho Schubert những hiểu biết về âm nhạc.
Schubert bắt đầu được cha dạy nhạc khi lên 5, một năm sau ông theo học trường Himmelpfortgrund và bắt đầu chính thức theo học âm nhạc. Năm 7 tuổi ông học với Michael Holzer, nhạc công organ và trường dàn đồng ca của nhà thờ địa phương.
Năm 1808 ông vào trường Stadtkonvikt với suất học bổng trong dàn đồng ca. Tại đây ông bắt đầu làm quen với các bản overture và giao hưởng của Mozart. Cùng thời gian đó ông còn thỉnh thoảng đến xem các vở opera, làm quen với các tác phẩm của các nhạc sĩ khác kém quan trọng hơn. Tất cả cá điều này tạo nên nền tảng âm nhạc vững chắc trong ông. Tại trường Stadtkonvikt ông cũng tạo dựng các mối quan hệ mà sau này sẽ cùng ông đi hết cuộc đời.
Thỉnh thoảng Schubert được giao chỉ huy dàn nhạc, Antonio Salieri, nhạc sĩ đối thủ của Mozart, cũng là nhạc sĩ hàng đầu đương thời bắt đầu chú ý đến tài năng trẻ, bỏ công đào tạo Schubert về lí thuyết âm nhạc và kĩ năng sáng tác. Thể loại nhạc thính phòng ghi dấu đặc biệt trong giai đoạn này, bản thân gia đình Schubert đã là một dàn nhạc thính phòng 5 người thường xuyên trình tấu với nhau trong các dịp lễ và các ngày chủ nhật. Trong thời gian ở Stadtkonvikt ông cũng kịp sáng tác nhiều tác phẩm thính phòng, một số ca khúc nghệ thuật, và bản giao hưởng số 1.
Cuối năm 1813, ông rời Stadtkonvikt trở về quê học làm thầy giáo. Năm 1814 ông trở thành giáo viên tại trường của bố ông. Ông cũng tiếp tục học với Salieri cho đến năm 1817.
Năm 1814, ông làm quen với Therese Grob, con của một nhà sản xuất lụa trong vùng đồng thời là một ca sĩ soprano đã trình tấu một số tác phẩm của ông như Salve Regina, Tantum Ergo, Mass in F. Mối quan hệ tình cảm cũng phát triển phức tạp và có nhiều khả năng Schubert muốn kết hôn với Grob nhưng vì nhiều lí do sự việc đã không thành. Năm 1816 ông gửi Grob một tập tác phẩm mà gia đình bà còn giữ đến đầu thế kỉ 20.
Năm 1815 là năm Schubert tập trung vào sáng tác, ông viết đến 9 tác phẩm cho nhà thờ, 140 ca khúc nghệ thuật (lieder), một bản giao hưởng.

CAM NHAN BAI "SONATE ANH TRANG-BEETHOVEN

'" Tôi không bao giờ viết vì tiếng tăm. Những thứ tràn ngập trong trái tim tôi cần thiết phải được biểu lộ, đó là nguyên nhân vì sao tôi sáng tác."- Beethoven

CHUONG I
Adagio sostenuto(cung Đô thăng thứ) :  Nhẹ nhàng , tình cảm




CHUONG III
Presto agitato (cung Đô thăng thứ) : - Nồng nhiệt , mạnh mẽ như bão tố.

Moi cac ban nghe chuyen soan cho guitar:



Bản sonata viết cho đàn dương cầm số 14 op. 27 No. 2 ở cung Đô thăng thứ của Ludwig van Beethoven cũng được gọi là Bản Sonata Ánh trăng (tiếng anh: Moonlight sonate , tiếng Đức: Mondscheinsonate). Beethoven đã đặt tên cho nó là Sonata quasi una Fantasia.

Bản sonate chứa đựng những ý tưởng ảo diệu không thường thấy ở những bản Sonate khác, đặc biệt là phần cuối cùng là 1 phần rất khó sáng tác, vì thế đây là 1 bản Sonate có kiểu nhịp độ và định thể không chính thống (vào thời điểm bấy giờ các bản sonate thường bắt đầu với tiết điệu nhanh). Nhưng bản Sonate ánh trăng lại bắt đầu với thể Adagio, phần giữa với Allegretto, phần cuối cùng cực kì nhanh:
  1. Chương 1: Adagio sostenuto(cung Đô thăng thứ) :  Nhẹ nhàng , tình cảm
  2. Chương 2 : Allegretto (cung Rê giáng trưởng)  - Vui tươi
  3. Chương 3 :Presto agitato (cung Đô thăng thứ) : - Nồng nhiệt , mạnh mẽ như bão tố.
Ludwig van Beethoven viết bản sonate này dành cho cô học sinh dương cầm 17 tuổi của ông Gräfin Giulietta Guicciardi (1784–1856) vào năm 1801 và sau khi ông chết vài năm thì bản sonate được nhà phê bình âm nhạc Ludwig Rellstab đặt cho cái tên phổ biến như bây giờ, ông đã so sánh bài hát với ánh trăng trên hồ Lucerne
Suốt cuộc đời của Beethoven, bản sonate ánh trăng là 1 bản nhạc viết cho đàn dương cầm nổi tiếng nhất của ông, giá trị của nó thể hiện bởi sự tự do trong sáng tác và những cảm xúc kì diệu đầy lãng mạn.

Bản sonata cho piano số 14 được biết đến rộng rãi qua cái tên Sonata Ánh Trăng. Cái tên này có là do nhà thơ Ludwig Rellstap diễn tả tiếng nhạc tựa như “ánh trăng toả trên mặt hồ”. Có lẽ bạn sẽ đồng ý với Rellstap nếu chỉ nghe chương đầu tiên của bản nhạc. Chương đầu tiên cũng là chương nhạc được phổ biến và chơi nhiều nhất với thính giả nghe nhạc.

Chỉ với 3 chương nhưng âm nhạc của sonata Ánh Trăng đã diễn tả được hết những chuyển biến mãnh liệt trong các cung bậc tình cảm của con người. Bản sonata này là một trong những bản sonata của Beethoven được nhiều người yêu thích nhất qua tất cả các thời đại, thế nên nó dường như cũng có cuộc sống riêng của mình và được thêu dệt bởi rất nhiều giai thoại...

Vào năm 1801 là lúc Beethoven đang sống ở Vienna - thủ đô nước Áo - kinh đô âm nhạc của thế giới khi ấy. Bên cạnh việc sáng tác, để có thể trang trải cho những khó khăn trong cuộc sống của mình ông còn phải đi dạy nhạc cho con gái các nhà quý tộc. Một trong những học trò của Beethoven là Countess Giulietta Guicciardi - Beethoven đã đem lòng yêu cô gái này ngay từ lần gặp đầu tiên, Giulietta dường như cũng biết được tình cảm của Beethoven dành cho mình nhưng nàng chỉ im lặng, điều ấy khiến Beethoven càng thêm hi vọng.

Vào một tối sau buổi học, dưới vòm hoa rất đẹp của nhà Giulietta, Beethoven đã ngỏ lời với người mình yêu nhưng ông thực sự thất vọng và đau khổ khi bị từ chối. Không về nhà, ông đi một mình trên đường phố thành Vienna một cách vô định, lúc này ông chẳng để ý gì đến thế giới xung quanh nữa, và cũng chẳng biết mình đang đi đâu.

Đã rất khuya, lúc này Beethoven đang đứng cô đơn một mình trên chiếc cầu bắc qua dòng Danube xinh đẹp, hiền hòa (Vẻ đẹp của dòng sông Danube sau này tạo cảm hứng cho Johann Strauss sáng tác bản Valse nổi tiếng Sông Danube xanh - The blue Danube ) Gió và nước sông Danube lấp lánh ánh vàng làm Beethoven chợt thoát khỏi dòng suy nghĩ và nhận ra đêm nay là một đêm trăng rất sáng. Cả thành Vienna cổ kính đang chìm sâu vào giấc ngủ, tĩnh lặng dưới ánh trăng dịu dàng huyền ảo. Bất chợt ông nghe thấy đâu đó tiếng đàn Piano vang lên thánh thót nhưng buồn bã, xa vắng. Đi theo âm thanh của cây đàn Beethoven cuối cùng cũng đến được một ngôi nhà trong khu lao động nghèo, trong nhà chỉ có một người cha đang ngồi nghe con gái mình chơi dương cầm.

Người cha của cô gái nói với Beethoven rằng con gái mình đã không được nhìn thấy ánh mặt trời ngay từ khi mới sinh ra, suốt đời cô chỉ có một ước mơ duy nhất là được ngắm nhìn ánh trăng trên dòng Danube... Người cha đau khổ nói rằng có lẽ chẳng bao giờ ông có thể đem đến cho con niềm hạnh phúc giản dị ấy. Beethoven cảm thấy rất ngạc nhiên khi thấy cô gái vẫn chơi được piano và xúc động trước tình cảm của người cha dành cho con gái và số phận không may mắn của người thiếu nữ. Ông ngồi vào cây dương cầm và bắt đầu chơi, những nốt nhạc cứ ào ạt dâng lên theo cảm xúc mãnh liệt của nhà soạn nhạc thiên tài, lúc nhẹ nhàng hiền dịu như ánh trăng, lúc lại mạnh mẽ mênh mang như sóng Danube - những nốt nhạc và ánh trăng như hòa quyện vào với nhau dường như đang đưa con người ta đến một thế giới cổ tích huyền ảo - ở nơi ấy, không còn những lo toan thường nhật của cuộc sông lao động nghèo khó vất vả, không còn những bất công, đau khổ - mà là một thế giới của tình yêu, lòng nhân ái, sự cao thượng - một thế giới của chân thiện mỹ mà từ thuở hồng hoang cho đến bây giờ, con người vẫn không ngừng khao khát vươn tới. Bản nhạc đã kết thúc mà trên gương mặt của người thiếu nữ vốn thường ngày lúc nào cũng u uất một nỗi buồn khó tả thì giờ đây đang rạng rỡ lên bởi nụ cười hạnh phúc, hai cha con họ cũng đã biết người ngồi bên cạnh mình chính là Beethoven - một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của mọi thời đại.

Bản sonata Ánh Trăng bất hủ ra đời từ ấy, sau này Beethoven đã viết lời đề tặng bản sonata này cho Countess Giulietta Guicciardi để kỷ niệm mối tình đầu của mình.

Điều đặc biệt đáng ca ngợi là sự kiêu hãnh của Beethoven trong tư cách là một nghệ sĩ và một nhà tư tưởng. Vào một ngày, khi anh trai Johann của ông gửi một tấm thiếp với dòng chữ “chủ đất” sau tên mình, nhà soạn nhạc đã gửi lại tấm thiếp của mình, trên đó ghi dòng chữ “chủ sở hữu bộ não”.
Một trường hợp khác, Beethoven có ý định bán chiếc nhẫn mà ông nhận được từ vua Phổ nhân những cống hiến của bản giao hưởng số 9. Nghệ sĩ violon Karl Holz, người bạn thân thiết đến cuối cuộc đời của Beethoven, đã cố gắng thuyết phục ông giữ lấy kỷ vật này và nhắc lại rằng người tặng là một vị vua, nhưng “Tôi cũng là một vị vua” - đó là câu trả lời của Beethoven.
Có thể đoan chắc, Beethoven đã vượt xa thời đại của mình, để trở thành một nhà quý tộc của những thiên tài với niềm kiêu hãnh đặc biệt, hơn cả những vị quý tộc bẩm sinh.
Vào thời của Beethoven, tại Áo cũng như tại Đức, giới quý tộc vẫn còn thống trị. “Nhân loại bắt đầu với ngài nam tước” là một câu châm ngôn xấc xược và xuẩn ngốc nhưng lại thịnh hành. Beethoven nghĩ gì về nó, ắt hẳn chúng ta đều biết qua những hàm ý trong hành động của ông. Beethoven luôn giữ mình ngang hàng với tất cả những nhà quý tộc danh giá nhất thành Viena bằng mọi cách, và từ chối mọi hành động khúm núm trước họ. Và trong trường hợp học sinh của ông là thành viên của các gia đình hoàng gia thì điều đó cũng không thuyết phục Beethoven đối xử tôn trọng với họ hơn những người khác. Nhà soạn nhạc đã từng cự tuyệt các nghi lễ cung đình ngay cả khi dạy nhạc trong lâu đài của hoàng tử Rudolph, cậu con trai út của hoàng đế Leopold II. Khi các cận thần quấy rầy Beethoven với những cố gắng của họ để bắt ông phải tuân theo những luật lệ của chốn cung đình, thì hoàng tử đã mỉm cười và nói với các cận thần hãy để cho Beethoven được xử sự theo cách riêng của mình.
Nhà soạn nhạc Đức Ferdinand Ries, người từng được biết đến với tư cách là thư ký, người sao chép tài liệu cho Beethoven và đồng thời là người bạn keo sơn của ông, đã kể lại rằng: nhà soạn nhạc đã từng quở trách vài nhà quý tộc vô giáo dục. Đó là một buổi biểu diễn âm nhạc ở lâu đài của bá tước Browne. Beethoven chơi một số bản hành khúc piano bốn tay với Ries, khi ngài bá tước P. bắt đầu nói trò chuyện với một tiểu thư quý tộc trẻ trung xinh đẹp bên cánh cửa của phòng liền kề đó. Sau những nỗ lực lấy lại sự im lặng trở thành vô hiệu, Beethoven đột ngột đứng dậy và giận dữ kêu lên: “Tôi không thể chơi đàn cho những con lợn này nghe”. Tất cả mọi van nài để nhà soạn nhạc trở lại bên cây đàn sau đó đều thất bại.
Một buổi tối, người bảo trợ của Beethoven, hoàng thân Karl Lichnowsky đề nghị ông chơi đàn cho một vài người bạn nghe nhưng Beethoven dứt khoát từ chối. Nổi giận đùng đùng khi Lichnowsky vẫn cứ chờ đợi dù ông không muốn. Beethoven đã chạy lao ra ngoài trời mưa, bản tổng phổ vẫn cầm trong tay. Ông đã kiêu hãnh nói: “Thưa hoàng thân, những gì ngài có là bởi sự ngẫu nhiên, còn tôi, những gì tôi có là bởi nỗ lực của riêng tôi. Trên thế gian này đã có hàng ngàn hoàng thân và sẽ tiếp tục có hàng ngàn hoàng thân nữa, nhưng chỉ có duy nhất một Beethoven!”. Mưa đã để lại những vệt dài trên bản viết tay bản sonate “Appassionata”…